Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2012

Quảng Ngãi: Thương về Xứ Nẫu!

Chiều nhạt nắng trên đồi. Tôi đứng lặng trong một không gian tĩnh mịch đầy nỗi u hoài trên đồi Thanh Lâm giữa ngàn thông reo, nơi các bậc tiền nhân họ tộc Nguyễn yên nghỉ… Hương nhang phảng phất tỏa lan trong gió chiều. Lòng bâng khuâng hoài niệm... Thương về xứ Nẫu! Thương về xứ Nẫu - Miền Trung! Trong sự tiếp biến và giao thoa văn hóa, phương ngữ xứ Nẫu đi vào ca dao, thơ, dân ca, văn học dân gian mở rộng ra bao trùm cả miền trung khu V bao gồm các tỉnh: Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên. Tuy âm sắc phát âm mỗi vùng mỗi khác do vị trí địa lý nhưng đều chân quê, mộc mạc và có nhiều điểm tương đồng. Nếu một lần về đây để cảm nhận, người xứ Nẫu mến khách, thân thiện và hài hước, hồn nhiên "... Bạn về xứ Nẫu ngẩn ngơ Nẫu cười." Nẫu cười thì kệ Nẫu cười, Nẫu cười lạnh bụng, hở mười cái răng" Cái khí chất ăn sóng, nói gió của cư dân miền duyên hải miền Trung cũng góp phần vào cái sắc thái ngôn ngữ xứ Nẫu, phương ngữ xứ Nẫu như cái độ nồng mặn chát mang theo cả gió biển và cát nóng khắc nghiệt, hình thành nên khí chất người dân xứ Nẫu: Cần mẫm, hiền lành nhưng cộc cằn, phóng khoáng nhưng ngang ngạch, tình cảm nhưng vụng về, trào lộng và dí dỏm... Dân xứ Nẫu không khôn ngoan, ngọt ngào và khéo léo như người xứ Bắc , không lịch lãm và rộng rãi, vô tư như người xứ Nam Bộ cho nên đi xa mưu sinh thường ít thành đạt, ít bạn nhưng nếu có bạn tri kỷ sẽ sống chết vì bạn. Dân Nẫu sống trực tính và khí khái, trực tính quá hóa cực đoan, đôi khi Nẫu không quan tâm người khác nghĩ về mình như thế nào nên hay đề cao cái Tôi cá nhân. Quan trọng là cái Tâm của Nẫu nên " Mược kệ Nẫu" như Nẫu dzậy ( Nẫu vậy) Đặc điểm chung của dân xứ Nẫu miền Trung là vậy. Về Đức Phổ (Quảng Ngãi), bạn sẽ nghe câu ca dao rất đỗi thân thương về tình yêu thủy chung: " Thuốc ngon chợ Huyện Giấy quyến Sa Huỳnh Ai xa thì mược nẫu Chớ hai đứa mình đừng xa!" Người quê tôi được gọi là "Dân Xứ Nẫu", đây là từ phương ngữ chỉ đại từ nhân xưng "Nẫu" đã trở nên phổ biến với chất giọng nằng nặng, thô ráp nhưng chân chất không lẫn vào đâu được của người dân vùng quê nghèo. Xứ Nẫu là huyện đồng bằng ven biển nằm ở phía Nam tỉnh Quảng Ngãi tiếp giáp với tỉnh Bình Định, là mảnh đất kiên trung trong chiến tranh nơi bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm đã hy sinh. Xứ Nẫu là quê hương của nền văn hóa Sa Huỳnh nổi tiếng, là nền Văn hóa Champa cũng được phát hiện ở Đức Phổ với các bia ký khắc trên đá bằng chữ Sanskrit ( Chữ Chăm cổ) được tìm thấy tại thôn Thạnh Đức, xã Phổ Thạnh, cùng với các phong tục tập quán, các lễ hội dân gian : Lễ hội cầu ngư, hát sắc bùa,... đã tạo nên một vùng quê có bản sắc và truyền thống nghệ thuật độc đáo, phong phú, đa dạng, phản ảnh được bản chất và khí phách của người dân nơi đây. Người Xứ Nẫu thủy chung, nhân ái, quý trọng nghĩa tình, cần cù, hiếu học, yêu lao động. Người quê tôi cục mịch và chân quê, ăn nói cục hòn, nói chắc như đinh đóng cột như câu tỏ tình nổi tiếng đi vào phương ngữ người bản địa với giai thoại dí dõm, hài hước trong cách biểu lộ tình cảm lứa đôi bằng một thái độ hết sức trung thực "Nói gần nói xa, chẳng qua nói thiệt" như bản chất thiệt thà, chất phác của Nẫu: "Yêu hổng yêu thì thâu, nói dứt phát" ( Yêu không yêu thì thôi, nói dứt khoát). Ừ! Thì người xứ Nẫu rành rọt, yêu ghét rõ ràng nên tình yêu cũng phải "Dứt phát" huống chi thứ khác. Hay là câu than thân trách phận: " Thương chi cho uổng tâm tình, Nẫu dzìa xứ Nẫu bỏ mình bơ vơ" Đó là những lời tâm sự không phô diễn mà kín đáo, không cuồng nhiệt mà vẫn đủ độ mặn nồng, không lời hoa bướm nên rất mực chân thành "Mưa sa nhỏ giọt như dầu Khổ thời anh chịu chứ lìa nhau anh không lìa." Tất cả tạo nên tính phức điệu, đa thanh trong ngôn ngữ giao tiếp xứ Nẫu, trong từng câu hò, điệu hát mang đầy hương vị hồn quê. Còn nhớ Hầu nào (Hồi nào) ngày còn bé thơ trong cảm giấc hân hoan, sung sướng khi lần đầu tiên sau năm 1975 Ba đưa tôi "Dzìa Xứ Nẫu". Bà con trong họ tộc mừng vui đón Ba trở về. Một chút ngạc nhiên khi lần đầu tiên trong kí ức tuổi thơ tôi được nghe những từ phương ngữ thô ráp, chân chất, thân thương của người miền quê Đức Phổ ( Quảng Ngãi). Ba dẫn tôi lên đồi chỉ vào từng ngôi mộ của các bậc tiền nhân trong tộc họ Nguyễn rồi giới thiệu cho tôi về mộ của Ông tổ, bà tổ, mộ của ông bà Nội, của bà con thân thuộc trong dòng họ. Ba chỉ cho tôi những di tích lịch sử địa đạo còn sót lại trên đồi như một di tích của chiến tranh còn sót lại trên mảnh đất này. Tôi vẫn thường nhớ lời Ba dạy bảo:"- Kẻ nào dứt áo ra đi mà không nhớ về mái tranh, gốc rạ, về ông bà tổ tiên sẽ bị Nẫu " Ngầy". "Chu cha!" Xứ Nẫu nghèo lắm! Dường như cái đặc sản mà người dân nơi đây thường xuyên gánh chịu là chiến tranh, bão lụt và thiên tai. Nhưng từ cái khó khăn khắc nghiệt đó đã hun đúc nên tính cách người Xứ Nẫu, hun đúc nên truyền thống hiếu học lâu đời trên mảnh đất này. Người Xứ Nẫu kiên cường trong chiến tranh, cần cù chịu khó trong cuộc mưu sinh vất vả, vượt lên trên cả là ý chí và truyền thống của con người nơi đây. Đó không thể là sự may rủi, không phải là sự cam chịu số phận, mà là nghị lực phi thường của những thế hệ tiền nhân đi trước đã khai phá mảnh đất này. Có lần tôi hỏi Ba: "- Dòng họ Nguyễn lập nghiệp ở đây lâu chưa hả Ba?". Ba cười :"- Lâu lắm, chẳng ai còn nhớ là Đời nào nữa nhưng rất lâu. " Thời gian thoáng chim bay. Sau hơn 20 năm đất nước đau thương bị chia cắt và oằn mình dưới bom đạn của cuộc nội chiến tàn khốc để lại nhiều hậu quả nặng nề, khi đi trai tráng khi trở về mái tóc đã bạc màu hoa râm. Trong biến cố năm 1954 - như một bị kịch của cả dân tộc Việt Nam - các bác, Ba tôi, các cô, chú và người thân ruột thịt trong dòng họ lại bị chia ly trong nước mắt, người ra Bắc, người vào Nam, người ở lại xứ Nẫu trong vùng tranh chấp ác liệt. Trở về làng quê Xứ Nẫu trong ngày đất nước thanh bình tưởng mong gặp được người thân, được sum họp một nhà nhưng " Người xưa nay còn đâu": Người mất, người hy sinh, người phiêu bạt tứ xứ... Đó là nỗi đau chung của nhiều gia đình Việt Nam sau thời hậu chiến. Những năm về trước chiến tranh khốc liệt triền miên nhiều người dân Xứ Nẫu phải bỏ Xứ phiêu bạt mưu sinh hay vì nhiều lý do khác nhau phải ra đi. Dù đi đâu, về đâu " Nẫu có xa mược Nẫu" nhưng trong lòng Nẫu vẫn day dứt ân tình với quê hương. Những năm cuối Đời trong kiếp nhân sinh, ba đưa chúng tôi về quê nhiều hơn để nhắc nhở và giáo dục chúng tôi luôn nhớ về cội nguồn của mình. " Sống gửi thác về" Năm 2003 Ba tôi mất, chúng tôi đưa ba về miền quê xứ Nẫu nằm cạnh ông bà tổ tiên như mong muốn của Ba. Với tôi, những chuyến đi về thăm ông bà tổ tiên, về miền quê đến Thanh Lâm, Lộ Bàn, Sa Huỳnh, núi Dầu Rái, núi Chóp Vung, sông Trà Câu, Châu Me... bao giờ cũng mang đến nhiều cảm giác bình yên và gần gũi đến kỳ lạ. Bầu không khí làng quê dịu ngọt, êm đềm. Xa xa, bên xóm núi đập An Thọ thấp thoáng những thân cò trắng lặn lội kiếm ăn, một tiếng chim cu đất "Gọi Đồng", màu khói lam chiều vờn bay trên những mái nhà lúp xúp ven chân núi... Khung cảnh buồn man mác, thanh bình và êm đềm nhưng vẫn toát lên cái gì đó của vẻ thanh bần. Bưng bát cơm quê với đủ mùi vị ngọt của cá đồng kho với nghệ, tự dưng thấy lòng ngào ngạt một thứ cảm xúc thật lạ :"- Thương hoài về Xứ Nẫu... Dẫy ngheng". Sau này đi xa, chạnh lòng thương bà con xứ Nẫu khi chợt nghe tin đài báo bão về miền Trung. Lang thang trong miền ký ức xưa, tôi luôn nhớ về hương vị quê nhà trong góc khuất riêng của tâm hồn: Nhớ kỷ niệm của một thời cắt cỏ, chăn trâu trong đập An Thọ, nhớ về khung cảnh làng quê thanh bình, nhớ đêm trăng đậm đà hương cau, nhớ cả mùi vị bánh ít lá gai trong ngày "Giỗ Họ" ở nhà Bác Tám, những dịp Thanh minh được Ba dẫn đi tảo mộ ông bà trên đồi, nhớ cả "Cái nghèo" của người quê xứ Nẫu trong những năm thời bao cấp, nhớ tiếng võng Nẫu ru con kẽo kẹt à ơi trong lời ru ngọt ngào. " Tay cầm ống chỉ xe lần Nơi xa trùng họ, nơi gần bà con Giậm chân xuống đất cái bon, Nay em ở vậy, chồng con đâu nà! " "... Ngó lên hòn núi Chóp Vung Ngó xuống cánh đồng lúa trĩu những bông Ước gì em chửi có chồng Anh về thưa cha mẹ, đem rược hồng đón em." " Lá rụng về Cội", Chầu rày trong tháng Thanh Minh, Nẫu ( Bác Ba Gái, anh Lân, dượng và cháu ruột ) từ Bình Thuận về quê xứ Nẫu cùng người bà con tại quê nhà thực hiện di nguyện cuối cùng của chị Bốn : Xây 14 ngôi mộ cho ông bà tổ tiên nội ngoại. Chị Bốn mất năm 2009 vì bị ung thư, trước khi mất chị di nguyện bán mảnh vườn của mình một phần để cúng Chùa, một phần về tu sửa và xây mới 14 ngôi mộ bà con nội ngoại trong tộc họ Nguyễn trong tháng Thanh minh. Đây cũng là di nguyện cuối cùng của chị Bốn trong phút lâm chung trên giường bệnh. Chị vẫn luôn nhớ thương về vùng quê xứ Nẫu trong những ngày bạo bệnh. Mái tóc cắt ngắn bạc phơ, khuôn mặt hiền hòa và giọng nói lơ lớ của người miền Nam, bác Ba thì thầm:"- Hèn lâu mới về thăm quê. Sống có Phước sẽ có Phận. Chắc đây là lần về cuối cùng của Bác về thăm quê, về sửa sang mồ mả tổ tiên theo di nguyện của chị Bốn, về quê thắp cho ông bà một nén nhang. Bác già rồi Hổng đặng về một lần nữa, sống cái nhà chết cái mồ mầm vầy cho trọn nghĩa cháu con với ông bà tổ tiên nơi cõi vĩnh hằng." Bác Ba khóe mắt rưng rưng, cười vui trong viên mãn. Lâu lắm, cả cuộc đời xa quê nay mới có dịp về thăm quê thực hiện di nguyện của người đã mất và một chút ân tình với tiền nhân trong họ tộc. Mọi người đều vui vì công việc đã hoàn tất. Mắt ai đều ngấn lệ, đỏ hoe vì xúc động. Hôm nay 18/4/2012 ( 28/3/2012 AL) Người xứ Nẫu cúng tạ sau gần hai tuần về xây mộ cho ông bà tổ tiên... Mọi người tỏa đi khắp nơi đốt nhang, khấn vái các bậc tiền nhân và bà con trong dòng họ Nguyễn. Bác Ba xúc động khi con cháu dẫn đi thắp hương trên mộ của các bậc Hiển cao Tổ tỷ do hậu duệ tôn tử ( Anh Châu, anh Thuấn ở TP Cần Thơ, anh Bảy ở Sài Gòn, anh Tiến, anh Mười, anh Sáu, anh Năm ở Đức Phổ-Quảng Ngãi) đồng phụng lập năm 2009. Lâu lắm rôi tôi không về thăm quê, thương về miền quê bị chiến tranh tàn phá khốc liệt, thương quê nghèo trước một thiên nhiên đầy ẩn họa và tai ương. Thương người xứ Nẫu lam lũ, nhọc nhằn mưu sinh trong cuộc Đời thế tục. Trong ngày nông nhàn, thôn xóm vắng bóng người "Dzẫy á" chỉ toàn người già và con trẻ... Người dân Xứ Nẫu lại vất vả vào Sài Gòn làm "Dân nhập cư" để nhọc nhằn mưu sinh với đủ các nghề: Bán vé số, đạp xích lô, bán hũ tiếu... Một thời trai trẻ dấn thân, tôi xúc động cay cay nơi sống mũi khi tình cờ gặp nhiều người đồng hương xứ Nẫu "Bạc mặt" trên đất "Sài Thành" trong những xóm lao động nghèo. Nẫu rong ruổi trên những nẻo đường "Sài Thành" trong những ánh đèn đêm của Vũ trường, quán Bar sôi động bằng những đôi chân bền bỉ với gách hàng rong để kiếm tiền về xây nhà cửa, xây mồ mả ông bà tổ tiên, nuôi con ăn học. Bóng Nẫu liêu xiêu trãi dài trên những con phố đêm để nuôi những hy vọng ngày mai. " Mẹ già sáng cháo chiều rau. Cắc ca cắc củm từng hào nuôi con" Làng quê Xứ Nẫu từng ngày đổi thay cũng nhờ một phần vào những đồng bạc cóp nhặt và những giọt mồ hôi lặng lẽ trong đêm như thế ! Người xứ Nẫu cóp nhặt từng đồng bạc lẻ trên những cuốc xe xích lô thẫm đẫm mồ hôi để nuôi con vào Đại học, từ những đồng tiền thẫm đẫm mồ hôi của Nẫu biết bao kỹ sư, bác sĩ, giáo sư,.. đã thành đạt từ vùng quê nghèo. Đất nghèo nuôi những hiền tài. Gia tộc họ Nguyễn trong thôn Thanh Lâm - Phổ Ninh vẫn tự hào về ý chí hiếu học và sự thành đạt của con cái gia đình anh Hai Ánh, bà con trong thôn và mọi người trong dòng họ luôn nói về những đứa con của Nẫu với cả sự tự hào đáng khâm phục và lấy tấm gương hiếu học của gia đình Nẫu để răn dạy con cái mình " Học để thoát nghèo". Lớn lên, đi đó đây tâm hồn nông cạn của tôi như rộng mở. Vật vã, tất bật với cơm áo gạo tiền trong những rối rắm xô bồ của đời sống nơi đô thị... Lâu lắm, tôi mới trở về quê Xứ Nẫu thăm bà con và làng quê gắn với kỷ niệm thời thơ ấu. Tôi quay trở về những mong tìm một chốn nương náu trong tâm hồn yếu đuối và đa cảm để thấy tâm hồn mình được bình an. Thương nhớ về xứ Nẫu ! Làng quê xứ Nẫu nay đổi khác nhiều với những con đường mới mở, những khu công nghiệp, khách sạn, Resort sang trọng mọc lên nhiều hơn trong sự phát triển của đô thị hóa nông thôn nhưng " Người già cô đơn nhiều hơn" ngay trên làng quê của Nẫu, ruộng vườn bị thu hẹp những cánh cò tản mát, tiếng chim cu đồng ngơ ngác nhường chỗ cho những dịch vụ và thương mại hóa. Chạnh lòng khi lũ trẻ bây chừ có đứa đi học từ thành phố, đứa đi làm ăn từ phương xa về mang theo nhiều từ lóng xa lạ, nhiều ngôn ngữ hiện đại thời @ ... Từ phương ngữ chân quê dần mất hẳn trong đời sống thường nhật của bà con, cảm thấy hương vị hồn quê xứ Nẫu dần nhạt nhòa. Thảng thốt như mất một cái gì đó chẳng biết gọi tên.... Uh! Dzậy á. Chiều ni Xứ Nẫu, tôi nghe có tiếng u trầm vang lên từ cõi vĩnh hằng như tiếng thì thầm từ lòng đất, nơi hồn thiêng tổ tiên gửi vào đó bao Đời nay vọng về. Tôi là người nhà quê - Xứ Nẫu với lòng tri ân sâu sắc nhất, xin trân trọng cảm ơn tất cả những gì xứ Nẫu mang lại cho chúng tôi. Và với lòng bao dung, xin quên đi tất cả những gì Nẫu đã vô tình đánh mất. Ngẫm nghĩ, còn chút gì đọng lại trong tôi với Nẫu, suy ngẫm với những trãi nghiệm trong cuộc Đời để biết trân trọng những gì miền quê xứ Nẫu đã ban tặng cho chúng tôi. Nén nhang đã cháy gần hết... Giữa ngàn thông reo vi vu trên đồi. "Ngọn gió vô thường" lao xao như ngân lên những giai điệu ngọt ngào của làn điệu dân ca miền Trung xứ Nẫu: Thân, trách thân nè. Thân sao chớ lận đận nè Mình, trách mình nè, số phận chớ sao hẩm hiu Chớ bởi thân tui, Tui cực khổ, tui eo nghèo Nên vợ tui nó mới không ở nữa Mà nó theo Nẫu rồi... Em ơi chớ bây giờ mà Em ở kìa nơi đâu? Chớ để cho anh nè Anh trông đứng nữa trông ngầu (ngồi) Rồi canh phia (khuya), chớ hầu (hồi) nào Qua Phú Lỡ ăn ẩu (ổi) chua Chớ xuống Đại Lãnh, uống nước ngót Chớ qua Hòn Dừa, ăn mực nen (nang) Chớ bây giờ em không ngó nữa Em không ngàng đến chồng nghèo nó cực khổ Mà gian nan nó cơ hàn... Hầu (hồi) nào chớ em thất nghiêp, em đi lang thang Chớ anh thấy em nữa tậu (tội) nghiệp Anh mang anh nuôi rày. Hầu (hồi) nào em bán nước đá rầu (rồi) anh đi may. Hai đứa mình nè, chung sống chứ không biết ngày rầu (rồi) mai sau. Chớ hầu (hồi) nào em bắt ốc rầu (rồi) anh hái rau. Chớ bây giờ, em đở (để) lại mối sầu này cho qua... Hầu (hồi) nào trái chuối chín... Cũng cắn làm ba Chớ trái cam tươi cũng cắn... Làm bốn Nửa trái cà cũng cắn làm năm Chớ bây giờ em lấy Nẫu Em ăn nằm, em bỏ Qua Chớ Qua hiu quạnh, năm canh một mình... Anh bây giờ, khoé mắt sầu cứ rung rinh Chứ giọt lợ (lệ) sầu, giọt lệ thảm, Như nước trong bình nó tuôn ra Anh bây giờ, như con Cuốc nó kêu tù qua Chớ nó lẻ đâu (đôi), nó lẻ bạn, Í quơ chú cha ơi.... là buồn! ( Than Thân trách phận - Dân ca cổ khu 5 " Nẫu ca") Quảng Ngãi, 16/4/2012 Nguyễn Hữu Quang

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét