Thứ Tư, 10 tháng 3, 2010

Nhật ký 10/2 : GỞI CHO … NƠI PHƯƠNG XA !


Nhật ký 10/2 : GỞI CHO … NƠI PHƯƠNG XA !
Cơn mưa hôm ấy ập xuống bất ngờ và thế là em ra đi…Trong tâm tưởng anh cứ thầm nhắc lại nó, giống như một kỷ niệm buồn. Đối với anh thế là hết tất cả. Cơn mưa ập xuống và xoá nhòa tất cả… Chỉ có hai kẻ đi bên lề cuộc đời chẳng rõ có còn nhớ đến nhau ? Nói rằng nó xóa nhòa nhưng có xóa nhòa được đâu! Vì mưa luôn nhắc đến kỷ niệm .Chiều mưa ấycó kẻ ướt mèm, cũng có kẻ hanh hao trong nỗi đau đến tận cùng của tâm hồn. Cơn mưa đầu mùa miền Trung hối hả, cái dáng quen thuộc của ai đó lại gợi nhớ về em.Và anh, anh cũng chẳng biết vì sao mình đặt bút viết những dòng chữ này, dù biết rằng anh là kẻ nói dối. Đã bao lần anh nói "tình yêu là cái không có thật" để luôn đi tìm,nhiều lần viết thư cho em chẳng dám gởi thư đi, chỉ gởi một tờ giấy trắng làm em đớn đau .Dù rất đớn đau nhưng anh cũng phải công nhận đó là sự thật .Chỉ có điều khó hiểu là vì sao…?
Con đường của em vẫn dài rộng thế! Em cứ bước đi đi …Có gì làm vướng bận chân em đâu, em cứ bước đi mà theo anh nghĩ đâu cần những điều nói dối. Vì với anh thì thế nào cũng được, cái thế yếu của anh là ở chỗ anh luôn sống bằng tâm tưởng, bằng kỷ niệm. Đối với anh như thế là đủ, khép lại cho riêng mình tất cả…Chỉ có điều mỗi khi nghe mưa rơi anh lại thấy buồn. Mưa rơi làm cho anh nhớ lại những kỷ niệm xưa và nó gợi cho anh một nỗi buồn, chẳng phải anh quá ư lãng mạn nhưng những cái gì đã thành hình ảnh trong lòng thì khó quên lắm
…Mưa! Mưa luôn làm cho anh nhớ hoài những ngày mưa cũ. Đêm diễn văn nghệ trời mưa rả rích, đưa tiễn em về…Chúng mình cùng trú mưa dưới những hàng liểu xanh.Ngày ấy bên nhau,ta nhìn mưa như những giọt nước mắt. Giọt rơi trong tim anh, giọt ướt đẫm tóc em, đâu ai biết rồi mưa cũng sẽ là những giọt buồn.Có những giọt mưa làm tổn thương trái tim em…
Thì ra cuộc sống sách vở càng thơ mộng bao nhiêu thì cuộc đời thực tại càng nghiệt ngã bấy nhiêu. Khát vọng về một cuộc sống bình yên trong anh không đủ sức trụ lại những dự cảm đầy âu lo về sự tan vỡ, mất mát.Và thế là anh đã mất em, lạnh lùng và hụt hẫng, hoàn toàn hờ hững như chưa bao giờ có em để mà mất em; như chưa bao giờ có khoảng khắc nào em xuất hiện trong đời anh, để anh nhớ em.Có chăng cũng chỉ là một chút dư âm của ngày xưa, những ngày xưa ngập lối, phủ đầy những giọt hạnh phúc trên đôi trái tim run rẩy, lên đôi bờ môi vụng dại…Em cười bảo "Bố bảo anh là người tốt nhưng yêu người lãng mạn như anh sẽ khổ thôi !"
Nhưng…Như em đã nói rồi và em cứ bước đi đi. Anh chẳng đòi hỏi ở em một cái ngoảnh đầu nhìn lại, mà anh chỉ mong em hãy vì tất cả mọi người và những gì xung quanh mà sống sao cho xứng đáng. Đó là điều mong mỏi nhất trong anh, anh chưa bao giờ định hình được cái mảnh vỡ giữa chúng mình nên khi xảy ra thì đã muộn mất rồi. Dù sao đừng để anh phải nhìn thấy em và để rồi anh không đủ can đảm cất lên tiếng gọi. Em lặng lẽ nhìn anh giống như một người không quen biết và để rồi lặng lẽ ra đi…Có thể em không ngờ rằng trên vạn nẻo đường đời, vẫn có một người âm thầm dõi theo dấu chân em từng giây,từng phút…Ngày trước anh thường nói "Em là người có cá tính nhưng tính em hiền chỉ hợp với công việc đi dạy thôi " bước ngoặc rẽ ngang cuộc đời khi em ra trường làm anh bất ngờ, cũng có thể em không có sự lựa chọn nào khác …
Không thể nói rằng anh đang cố quên em mà đúng ra anh đang cố làm quen nổi nhớ. Dẫu muộn màng, nhưng anh vẫn muốn nói một lời xin lỗi …Bởi những cơn mưa vẫn sống trong anh.Và với anh như thế là đủ. Nếu có thể nó sẽ là cả cuộc đời anh. Không cần biết sau cơn mưa…Vẫn có hai kẻ đi bên lề cuộc đời, có kẻ thì ướt mèm và một người hanh hao trong nỗi đau…
QHN

Thứ Hai, 1 tháng 3, 2010

Một vài dòng tự bạch về bản thân


Một vài dòng tự bạch về bản thân

Họ và tên : Nguyễn Hữu Quang
Sinh nhật : 10 tháng 2
Nghề nghiệp : Giáo viên mỹ thuật
Trình độ chuyên môn : ĐH mỹ thuật
Một vài dòng tự bạch thể hiện quan niệm sống :
• Đức tính mà tôi quý nhất :
- Ở con trai : Tín -lễ -nghĩa
- Ở con gái : Hiền dịu, chân thành, biết giao tiếp
• Quan niệm về hạnh phúc :
- Đạt được ước mơ.
• Quan niệm về đau khổ :
- Dốt nát, nhu nhược
• Tính xấu mà tôi ghét nhất :
- Dối trá, lười biếng
• Công việc mà tôi ưa thích nhất :
- Đọc sách báo, nghiên cứu VHNT, giảng dạy,vẽ
• Bộ môn giải trí yêu thích :
- Nghe nhạc, xem phim, đánh cờ, vi tính
• Tác phẩm văn học mà tôi yêu thích :
- " Những người khốn khổ. "của V.Huy-Gô
• Loài hoa mà tôi thích nhất :
- Hoa sen, hoa hồng.
• Trang phục quần áo tôi thích :
- Màu xanh dương nhạt, màu vàng kem
• Câu cách ngôn mà tôi thích :
" Học những điều mà trước kia mình chưa học dù vào lúc nào đi nữa, chẳng có gì là xấu ."

VĂN PHẠM & CUỘC ĐỜI .


VĂN PHẠM & CUỘC ĐỜI .

Từ trước đến nay có nhiều người viết về cách sống, các xử thế…Dưới đây là mấy lời khuyên của một nhân vật có uy tín về đạo đức cũng như về học vấn - đó là giáo sư William de Withyde :
• Sống ở thể " Năng động " (Forme active), đừng sống ở thể " Thụ động" (Forme passive). Hãy nghĩ tới điều gì mà khả năng bạn có thể tạo thành,chớ nghĩ đến những điều ngẫu nhiên có thể xảy đến với bạn.
• Sống ở " Trực thái "( Mode indicatif) hơn là " Bàng thái " (Mode Subjonctif). Hãy chú ý tới những việc đang có kết quả, hơn là hậu quả của chúng.
• Sống ở "Thời hiện tại"(Temp présent) đương đầu ngay với công việc, đừng hối tiếc quá khứ hoặc quá lo sợ cho tương lai.
• Sống ở "Ngôi thứ nhất" (Premiere peronne) và tự phê bình cá nhân mình, đừng bới lông tìm vết những thói xấu người khác.
• Sống ở " Số ít " (Singulier) nên căn cứ và sự hài lòng của lương tâm mình hơn là những lời khen ngợi của kẻ khác.
• Và nếu bạn muốn chia động từ, tốt hơn hết bạn hãy chọn động từ " Thương yêu " (Aimer)
Nguyễn Hữu Quang (sưu Tầm)

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2010

ý nghĩa của pho tượng Phật

Ý NGHĨA
CỦA PHO TƯỢNG PHẬT QUAN ÂM NGHÌN MẮT NGHÌN TAY(1656)
Ở CHÙA BÚT THÁP,THUẬN THÀNH-BẮC NINH
Pho tượng nổi tiếng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp chứa đựng nhiều "ẩn ngữ", triết lý sâu xa. Nó cho ta biết nhiều nét về quan điểm thẩm mỹ, nhân sinh quan và vũ trụ quan của người Việt thời Hậu Lê, nửa sau thế kỷ 17. Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp, Bắc Ninh, do Trương Thọ Nam tạc và hoàn thành vào năm 1656, thời Hậu Lê. Trên bệ tượng ghi: Nam Đông Giao, Thọ Nam - Trương tiên sinh - phụng khắc (tạm hiểu: Nam Đông Giao là địa chỉ, Thọ Nam là tên hiệu, Trương là họ, tiên sinh là bậc trí giả, phụng khắc là phụng mệnh trời đất dựng tượng để thờ). Theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu, chữ "phụng khắc" được dịch là khắc theo ý chỉ của nhà vua (nhưng nếu phụng mệnh vua mà khắc thì tượng phải để ở kinh đô, trong khi đó pho tượng này lại được thờ ở một ngôi chùa). Tượng Quan Thế Âm bồ tát thiên thủ thiên nhãn - dân gian gọi là Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, có thể xem là một vũ trụ thu nhỏ, được sáng tác theo hệ thống quy luật rất chặt chẽ. Đó là những quy luật âm dương ngũ hành và bát quái, luôn bao hàm các cặp phạm trù đối lập nhưng thống nhất: Dương - Âm (thiện - ác, đỏ - đen, sáng - tối, trời - đất). Để bạn đọc nhận biết những mặt đối lập trên bố cục tác phẩm của Trương Thọ Nam, xin phân tích như sau: 1. Tượng Quan Âm được làm theo thế tam tài giả, tức là mối quan hệ tổng hòa thiên - địa - nhân. Khi nhìn vào tượng, vòng tròn phía sau được gắn gần một nghìn bàn tay, trong mỗi bàn tay được khắc một con mắt, đó là biểu tượng của Trời. Trời theo quan niệm ở đây là vũ trụ thu nhỏ. Trong vũ trụ, cái thiện được biểu tượng ở thế "tam quang giả" tức là 3 cái sáng bao gồm: mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Từ xa xưa, người Việt cổ đã nhận thức được mặt trời là trung tâm sự sống, sức mạnh thần kỳ của nó được thể hiện ở chính giữa trống đồng Đông Sơn. Ở pho tượng này, tác giả cũng đặt mặt Quan Âm vào trung tâm của pho tượng. Mặt trời là mặt Phật Quan Âm nổi bật nhất, sáng ngời, đầy vẻ từ bi hỉ xả. Mặt trời ở đây được thể hiện là bình minh, những tia sáng chiếu tỏa lên trên chứ không tỏa ngang, ý nói: Cái thiện là thế đang đi lên, có sức mạnh chiến thắng, biểu tượng cho văn minh xã hội. Mặt trời sáng ngời còn biểu tượng cho trí tuệ đức Phật Quan Âm đi khắp muôn phương xua tan bóng tối. Những kẻ có hành vi ám muội cũng không thể che nổi mắt Phật. Để diễn tả thâm ý này, tác giả đã khắc con mắt trong lòng bàn tay biểu tượng cho hàng nghìn vì sao trong thiên hà. Tất cả con số trên pho tượng đều là số lẻ, hơn 900 bàn tay và hơn 900 con mắt. Tác giả cho rằng số 1.000 là số chẵn, âm, tĩnh, không phát triển. Số lẻ, dương, động và phát triển không ngừng. Điều đó có nghĩa là trong vũ trụ có vô vàn vì sao đang quan sát trần gian. 2. Trên đã có trời, hình tròn, động, thuộc dương, nên dưới hệ tượng được biểu hiện cho đất, tĩnh, thuộc âm; hình vuông, nối giữa trời và đất là người - nhân vật Quan Âm. Trời, đất, người là 3 thế lực siêu nhiên trong vũ trụ, có sức sáng tạo không ngừng. Con rồng đen dưới tòa sen là Hắc Long dưới Biển Đông, tượng trưng cho cái Ác. Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ngồi trên tòa sen, cả tòa sen lại đặt trên đầu con rồng đen, tượng trưng cho cái thiện bao giờ cũng ngự trị cái ác. Hai cánh tay của con rồng chỉ đỡ hờ vào tòa sen tạo nên một bố cục chặt chẽ, nó còn nói lên một điều rằng: Cái ác cũng có một sức mạnh phi thường, chỉ một cái đầu cũng đủ đội cả toàn tượng lên trên. Trên mũ của Quan Âm có 3 tầng đầu, mỗi tầng có 3 đầu, đầu thứ 9 là Phật A Di Đà - tượng trưng cho cõi Niết bàn. Như vậy, mỗi cái đầu là biểu tượng của một tầng trời. Điều thú vị là A Di Đà cùng với con chim Thiên Đường ở phía sau được gắn với hai cái đầu (số 2 thuộc âm, biểu tượng cho linh hồn của người đã chết siêu thoát ở cực lạc). 3 cái đầu đó chụm lại gợi cho ta về cõi tam thế "quá khứ - hiện tại - tương lai". 3. Trong các chùa, 3 ngôi tam thế bao giờ cũng được đặt ở ngôi cao nhất. Trong nghệ thuật bố cục, Trương Thọ Nam đã gắn kết các hiện tượng với nhau thành một biểu tượng: Cả vòng tròn lớn đằng sau được gắn kết với con chim Thiên Đường, tạo thành hình tượng của lá bồ đề mà tâm của Phật là cuống của lá. Đạo Phật lấy lá bồ đề làm biểu trưng. Hình tượng mặt trăng được đặt trước tâm của Phật như một cái gương soi lại lòng mình để xem xét hành động hằng ngày đúng hay sai, thiện hay ác, sáng hay tối... Trên có Thiên Đường là cõi Niết bàn, nơi ngự trị của Phật A Di Đà, dưới có địa ngục được biểu hiện ở 4 góc, đó là 4 nhân vật to béo đang chịu cảnh thụ hình nhằm răn đe những ai rắp tâm làm điều ác. 4. Trong bố cục của pho tượng này, những cánh tay được sắp xếp tuy phức tạp nhưng lại rất nhất quán về phương pháp biểu hiện theo quy luật. Có 3 phương pháp cơ bản để biểu hiện ý nghĩa của thế tay: Thứ nhất là hai bàn tay chắp trước ngực, đó là ý chí của con người, tâm niệm làm điều thiện. Thứ hai là 42 cánh tay gắn ở hai bên hông tượng tỏa ra nhiều hướng hàm ý muốn thắng được cái ác phải sử dụng cả văn lẫn võ (những cánh tay bên phải biểu tượng cho văn, những cánh tay bên trái biểu tượng cho võ). Thứ ba là thế tay của Quan Âm nâng niu mặt trăng trước tâm của mình, tượng trưng cho sự soi xét tự kiểm. Để tu hành đắc đạo, chúng sinh phải có lòng kiên nhẫn, tu hết đời này truyền sang đời khác, cây đức trồng càng lâu thì phúc càng dày. Hai cánh tay để trên đùi của Phật biểu tượng cho ý chí kiên định tạo nên thành quả. 5. Tượng Quan Âm ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử đã chín muồi: Tác giả Trương Thọ Nam đã tiếp thu và nâng nghệ thuật của pho tượng này lên đỉnh cao bởi giao lưu với nền nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ, nền điêu khắc Chăm, nhất là những cánh tay của Phật như những cánh tay vũ nữ thanh khiết của Chăm. Trang phục của Quan Âm được tác giả chuyển sang hình khối, bố cục đường nét rất lãng mạn theo phong cách Việt Nam mà ông đã tiếp thu được từ nền nghệ thuật Lý - Trần qua cách mô tả sen. Sen thời Lý được chạm rồng trên các cánh hoa, sen thời Lê được chạm khắc theo những nét lửa Lê - ngọn lửa của truyền thống chống ngoại xâm. Ở châu Á, đạo Phật khởi nguồn nên chủ đề "Quan Âm nghìn mắt nghìn tay" được tạc ở một số nước, nhưng tác phẩm do nhà điêu khắc thiên tài Trương Thọ Nam sáng tác có nội dung hoàn chỉnh bậc nhất về thế giới quan và nhân sinh quan theo quan điểm Phật giáo truyền thống, có hình thức nghệ thuật đạt được sự hoàn mỹ tuyệt vời. Pho tượng này đã đạt giải đặc biệt khi tham gia triển lãm nghệ thuật Phật giáo Quốc tế tại Ấn Độ năm 1958. Họa sĩ, nhà điêu khắc Lê Đình Quỳ
--------------------
www.cadviet.com