Thứ Hai, 31 tháng 1, 2011

Hình tượng hoa Sen trong văn hóa Việt Nam



Hoa Sen có vai trò và vị trí đặc biệt cả về tâm linh và văn hóa của người Việt. Từ bao đời nay, Hoa sen đã đi vào lòng người, đi vào cuộc sống và văn hoá của người Việt. Ngắm hoa sen chúng ta có thể thấy và nhận ra hình ảnh con người Việt Nam
Mặc dù sinh ra trong bùn lầy nhưng hoa sen không bị ô nhiễm mà lại có khả năng làm thay đổi hoàn cảnh sống, vì hoa sen hễ mọc ở nơi nào thì sẽ làm cho nước đục nơi đó lắng trong. Sen có cả hương lẫn sắc, nhưng hương sen không quá nồng mà dịu, gợi một tinh thần cao thượng. Sắc sen kín đáo, đằm thắm, cánh trắng phớt hồng, nhụy vàng. Từ khi nở đến khi tàn không hề bị ong bướm bén mảng tới. Qua bao ràng buộc để đến được chỗ khoáng đạt hư không, sen tiếp tục vươn lên dưới ánh mặt trời, khai nụ kết hoa, khoe sắc và xông hương tràn ngập không gian.
Sự hình thành của sen diễn ra theo qui luật nhân quả luân hồi. Sen có cả nụ - hoa - hạt. Hoa nở tượng trưng cho quá khứ, đài sen tượng trưng cho hiện tại và hạt sen tượng trưng cho tương lai, sự nối tiếp liên tục. Vì vậy, hoa sen trở thành biểu tượng trong nghệ thuật Phật giáo của Phương Đông. Nó tượng trưng cho vẻ đẹp thần bí, huyền ảo, tư tưởng sâu kín. Bông hoa sen cũng tượng trưng cho sự thanh cao, bất khuất của người quân tử, giữ chặt lòng mình trước cám dỗ của lợi danh, giữ cho mình sự trong sạch dù ở giữa chốn bùn nhơ
Từ ý nghĩa tâm linh ấy, bông hoa này đã đi vào tâm thức của người Việt Nam, trở thành hình tượng trong kiến trúc và điêu khắc của người Việt xưa, trong nghệ thuật, trong văn học, ẩm thực…
Cho đến tận hôm nay, khi bạn bè quốc tế đến với Việt Nam thì hình ảnh đầu tiên họ gặp là bông sen vàng trên những chuyến bay của Vietnamairline, hình ảnh biểu hiện cho sự khai sáng và hoàn mỹ; vừa đời thường lại vừa cao quý, linh thiêng; vừa duyên dáng, mềm mại, nhưng không kém phần cứng cáp, đĩnh đạc, tượng trưng cho những con người Việt Nam dũng cảm kiên cường nhưng đôn hậu và cởi mở.
Biểu tượng Hoa sen trên Trang tin điện tử Bộ Văn hoá – Thông tin (Cinet) - kênh thông tin tuyên truyền chính thức về văn hoá Việt Nam - cũng chính là để thêm một lần khẳng định: “Hoa sen – Con người Việt, Tâm hồn Việt, Văn hoá Việt”.

1. Hình tượng hoa sen trong văn học nghệ thuật
Khi nói đến Sen, Là người Việt Nam chắc hẳn ai cũng thuộc câu ca dao:

"Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".
Khi xưa, Mạc Đĩnh Chi khi đứng trước vua Trần Anh Tông đã thể hiện rõ phẩm chất của mình qua bài phú “Ngọc tỉnh liên” (Hoa sen trong giếng ngọc): Vì hoa sen vốn có tiết tháo thanh cao, không hoa nào sánh được, tuy gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn; vả lại sen này lại trồng trong giếng ngọc nữa thì sen càng cao quý biết bao. Ông như sen, dù có phải ở vào hoàn cảnh ô trọc thế nào thì cũng vẫn giữ khí tiết thanh cao, huống chi ở phải vào một thời tốt đẹp, vua minh chánh thì người ông càng cao quý biết mấy. Sen quý nhưng phải có người sành mới biết thưởng thức…”
Làng quê nơi Bác sinh ra cũng có tên là Làng Sen, và có lẽ hoa sen đẹp nhất khi được ví với hình tượng Bác Hồ, người cha già dân tộc, vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta:


"Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ"
...

2. Hoa sen trong mỹ thuật truyền thống của người Việt

Ở Việt Nam, đề tài hoa sen xuất hiện khá sớm trong nghệ thuật tạo hình, hầu như ở thời nào cũng được các nghệ nhân thể hiện trong các đồ án trang trí của nơi thờ tự hoặc ở các công trình văn hóa của cộng đồng. Sen được khai thác, phản ánh dưới nhiều góc độ bố cục khác nhau, xuất hiện hằng xuyên theo chiều dài của lịch sử dân tộc qua những công trình kiến trúc.
Hoa sen trong mỹ thuật thời Đinh - Tiền Lê
Trên một số viên gạch lát nền cỡ lớn tại khu vực đền vua Đinh và đền vua Lê, ngoài đề tài trang trí chim phượng còn có đề tài hoa sen. Đồ án về các hoa sen ở đây gồm 4 loại.
Loại hoa sen có 16 cánh thường được thể hiện nổi trên các viên gạch vuông cỡ lớn. Nhìn chính diện (từ trên xuống), họa tiết được bố cục chung dưới dạng một mặt tròn nằm giữa viên gạch, gồm 3 lớp. Lớp ngoài cùng là 16 cánh sen xếp đều nhau kết thành một vành tròn đều đặn. Lớp giữa gồm những vân xoắn đơn được xếp cùng chiều, nối lưng nhau thành một vành tròn thứ hai, có lẽ thể hiện nhụy hoa. Lớp trong cùng là một hình tròn điểm 13 chấm nổi, thể hiện hình gương sen với các hạt. Mười ba hạt sen được sắp xếp thành các cạnh từ trung tâm chạy ra 8 phía, cân đối, đều đặn. Các cánh sen không chạm thêm chi tiết gì ngoài một đường gờ nhỏ viền theo chu vi của cánh. Loại đồ án hoa sen 16 cánh này còn gặp nhiều ở thời kỳ sau, ở các tảng đá kê chân cột cho nên phần giữa và phần nhị hoa không chạm khắc gì và nó có nhiều nét tương đồng với các đồ án trang trí ở Trung Quốc và Nhật Bản.
Loại hoa sen 14 cánh được trang trí trên một đài sen bằng đất nung, cao xấp xỉ 10,5cm. Đài sen hình tròn, trang trí một hình hoa 14 cánh ở giữa và bao quanh sen là đồ án hoa cúc dây và một băng các chấm tròn. Trong trường hợp này, sen cũng bố cục theo lối nhìn chính diện từ trên xuống, được chia thành 3 lớp như kiểu hoa sen 16 cánh. Lớp thứ hai làm nhụy hoa ở đây rất hẹp, các nhụy được thể hiện như những đường gạch chéo nhỏ. Lớp trong cùng (gương sen) đã có số ụ tròn (thể hiện hạt sen) nhiều tới 21 hạt, gồm một hạt tương đối to ở giữa và 20 hạt nhỏ bao quanh thành 2 vòng (vòng trong 8 và ở vòng ngoài là 12). Đồ án này khắc họa khá tỉ mỉ. Các hạt sen ở giữa đều được thể hiện kép bằng 2 vòng tròn đồng tâm còn trong lòng các cánh sen không những có gờ viền quanh mà còn điểm cả vân lá. Phía ngoài hoa sen là một băng hoa dây mảnh kiểu dây leo tay mướp (có nhiều vào các thời sau). Ngoài cùng là những hình chấm tròn to, mỗi chấm được bao quanh bằng hai đường tròn đồng tâm như kiểu các hạt sen ở giữa.
Loại hoa sen 8 cánh cũng được thể hiện theo lối nhìn chính diện từ trên xuống. Ngoài 8 cánh chính, có 8 cánh phụ ken giữa từng cặp cánh chính. Họa tiết này được trang trí trên mặt hai loại gạch, một có dạng vuông, cỡ 34 x 34cm và một có dạng hình chữ nhật, cỡ 74cm x 34cm. Loại gạch vuông hoa sen bố cục ở giữa, còn loại chữ nhật thì người ta phân đôi viên gạch, hai hoa sen trang trí hai phía. Hoa sen cánh to và ngắn, trong lòng cánh có đường viền. Phần hình tròn thể hiện gương sen ở giữa, với 9 chấm tròn thể hiện hình ảnh của các hạt sen được bố cục với một hạt to ở giữa và 8 hạt nhỏ hơn phân đều ra các phía thành một vòng tròn. Đáng chú ý là giữa cánh sen và gương sen không có lớp nhụy sen như hai đồ án trên mà chỉ là một băng để trơn.
Loại hoa sen số cánh không cố định khá đa dạng, được trang trí ở đầu các ngói ống giọt gianh. Có loại cánh sen thon dài, mũ sen vát; có loại nhỏ, ngắn; có loại to mập; có loại dài có đường gờ xen giữa hai cánh. Số lượng cánh cũng không cố định, có loại 7 cánh , có loại 8, 9 cánh, tất cả đều cách điệu đơn giản, chỉ có cánh sen và đài gương. Có khi đài gương cũng không có hạt sen.
4 loại đồ án hoa sen trên là những đồ án khá đẹp, chứng tỏ tuy các thời Đinh - Tiền Lê ngắn ngủi nhưng cũng đã sáng tạo ra những sản phẩm có dấu ấn đặc trưng trong lịch sử mỹ thuật nước nhà.
Hoa sen trong mỹ thuật thời Lý
Đây là thời kỳ mà Phật giáo phát triển mạnh, được coi như quốc giáo và trang trí hoa sen được ứng dụng rất nhiều với các đài hoa sen, các bệ tượng Phật bằng hoa sen, các kiến trúc hình hoa sen. Những tảng đá kê chân cột cho đến diềm cửa tháp, diềm bệ tượng và cả đồ gốm... hễ đâu có điều kiện thích hợp là nghệ nhân dùng ngay hoa sen để trang trí. Đặc biệt các công trình liên quan đến Phật giáo thì đề tài hoa sen càng được sử dụng nhiều.
Loại đồ án hình hoa sen đỡ chân cột: Do yêu cầu chống mối mọt và ẩm thấp nên các chân cột đều được kê đá. Tận dụng điều đó, các nghệ nhân đã trang trí các cánh sen viền quanh, tạo cảm giác như toàn bộ ngôi chùa được dựng trên các đóa hoa sen. Hoa sen chân cột có phần giống với hoa sen trên các viên gạch ở thời Đinh - Lê, được bố cục các cánh thành một vòng tròn theo kiểu nhìn chính diện từ trên xuống. Hoa bao gồm 16 cánh chính và 16 cánh phụ. Điều khác nhau là các đồ án này của thời Lý không thể hiện phần nhị sen và gương sen, có lẽ vì cột che khuất. Đáng chú ý là lòng của các cánh sen thời Lý ở các di tích liên quan tới vua, thường được chạm thêm đôi rồng dâng chầu lá đề. Nét chạm tỉ mỉ tinh tế, tôn thêm vẻ cao quý của cánh sen. Loại đồ án này còn thấy trên một số đồ gốm men ngọc thời này.
Loại đồ án hoa sen đỡ các vật thiêng, là hình các đài sen trong tư thế nhìn nghiêng, như đài sen làm bệ đỡ cho các chân chim phượng, trong các đồ án phượng múa ở các thành bậc (ở chùa bà Tấm, Hà Nội), hoa sen làm bệ đỡ cho các vật thiêng bố cục trong hình lá đề, hoặc trong các đồ án dàn nhạc, thiên thần, về rồng chầu (ở chùa Phật Tích)... Trong đó các đài sen thường đỡ các lá đề.
Loại đồ án hoa văn hoa sen kết hợp hoa dây và hoa thiêng khác thành băng dọc ở diềm cửa tháp hay ở bệ tượng, nay còn thấy ở di tích chùa Long Đọi, tháp Chương Sơn. Nghệ nhân bố cục thay đổi một hoa sen lại đến một hoa cúc, được thể hiện trong những vòng tròn của hoa dây. Cả vòng tròn này lại gần như tiếp tuyến nhau và chỗ gặp nhau là hình các thiên thần nhỏ bé đang trong động tác múa. Những hoa dây ở đây mang tính chất ước lệ, trên thực tế lá sen, lá cúc đã cách điệu khác hẳn thực tế. Bố cục của đồ án hoa sen trong các trường hợp này thường theo kiểu nhìn nghiêng hơi chếch để thấy cả gương sen với hạt sen. Các cánh sen cũng chia làm hai lớp như loại đồ án đài sen đỡ vật thiêng, nhưng lớp dưới của nó vừa làm đài đỡ vừa biến thành một vòng tròn ôm trọn lấy cả phần trên của gương sen. Tuy cách điệu khá cao nhưng đồ án hoa văn sen này được xếp vào loại có bố cục chuẩn nhất, cân đối và đơn giản trong đường nét mà vẫn mô tả được cái dáng vẻ riêng của hoa sen.
Loại đồ án hoa sen trên gốm men ngọc được trang trí trong lòng một chiếc bát men ngọc (hiện vật trưng bày của Bảo tàng lịch sử Hà Nội). Bát vào loại nhỏ, có màu men ngà hơi chuyển sang màu vàng nâu sẫm. Nghệ nhân gốm khắc chìm hình hoa văn lên đất, sau đó tráng men và đem nung. Đó cũng là kỹ thuật phổ biến của các đồ gốm men ngọc thời Lý. Các hoa sen được thể hiện theo lối nhìn nghiêng, trang trí ở trong lòng bát. Cuống hoa quay vào tâm bát, cứ một bông hoa sen lại một bông hoa cúc, chúng hoàn toàn độc lập với nhau. Tổng cộng có 3 hoa sen và 3 hoa cúc. Hoa sen gồm nhiều cánh, nở rộng ra 2 phía với bố cục tuân thủ sự cân xứng trong toàn bộ đồ án trang trí.
Hoa sen trong mỹ thuật thời Trần
Sang thời Trần, đề tài hoa sen vẫn được kế tục khai thác như trong tạo hình thời Lý. Đáng chú ý, trên một số gốm hoa nâu thời này xuất hiện các đồ án hoa sen với phong cách hiện thực sinh động. Một điều duy nhất để phân biệt là: các hoa văn trong lòng cánh sen thời Lý đôi khi có hình rồng, hoặc hoa dây, mà thời Trần hoàn toàn không có. Cánh sen thời Trần thường chỉ chạm thêm một đường gờ chìm viền theo mép cánh và ở trung tâm mỗi cánh đôi khi được điểm các hạt tròn trong một bố cục cân xứng khá chặt chẽ.



Đài Sen thế kỷ 11-12
Đồ án hoa sen đỡ các vật thiêng thời Trần khá phong phú như đồ án đỡ chân chim phượng trên trán bia chùa Tổng (Hưng Yên), đỡ các hình lá đề trong đồ án ở chùa Thái Lạc, chùa Dâu (Bắc Ninh), ở các chân cột, cốn, nhất là ở cửa chùa Thái Lạc, đài sen đỡ phía dưới các tượng phỗng, một đề tài chuẩn của thời kỳ này. Trên các bệ tượng Phật của thời Trần đều chạm thành những đài sen lớn. Cánh sen có 2 hoặc ba lớp, xen kẽ nhau, thể hiện thành những khối nổi, không còn chỉ là hoa văn nữa. Tuy nhiên cũng có những bệ lớp phía dưới cùng lại chỉ chạm nông thành một viền hoa văn trang trí, các cánh sen được chạm nối tiếp nhau vòng quanh bệ, hình thức thường to khoẻ, chen khít dăng thành hàng dài nhiều khi thì bố cục nghiêng mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là cánh sen vẹo. Trong lòng các cánh sen thường chạm thêm những hình hoa kết hợp bởi các ô tròn.
Đồ án hoa sen cách điệu thành hoa dây được sử dụng khá nhiều trên kiến trúc của chùa Thái Lạc. Và có lẽ đây cũng là ngôi chùa duy nhất có đồ án trang trí này. Hoa sen chạy dài phía dưới đôi rồng đang trịnh trọng dâng chầu lá đề, hay uốn lượn phía trên các “tầng mây”, nơi có hình các tiên nữ đầu người mình chim đang vừa múa vừa dâng hoa.
Hoa văn hoa sen trên gốm hoa nâu: Gốm hoa nâu được ra đời vào cuối thời Lý và phát triển mạnh ở thời Trần, gồm nhiều loại, kiểu dáng khác nhau. Có loại to như chậu, ang, thạp. Có loại nhỏ như bát, đĩa, liễn,... Hiện vật ngày nay còn lại ở một số bảo tàng như Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Mỹ thuật hoặc các bảo tàng địa phương ở Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Thanh Hóa, Hà Tây.v.v... Một số khác nằm ở các sưu tập tư nhân trong và ngoài nước. Trên các đồ gốm này thường được chia thành ô hoặc thành băng để trang trí bằng cách dùng bút vẽ lên xương đất, sau đó tráng men và kẻ vạch rồi mới đem nung. Đề tài trang trí gồm nhiều loại mà trong đó hoa sen chiếm số lượng lớn. Hoa văn hoa sen có loại đơn giản, chỉ vẽ vạch mấy nét mà thành, như trường hợp một chiếc âu trong sưu tập của Bảo tàng quốc gia Bỉ, phần lớn chúng được vẽ theo lối nhìn nghiêng... Từ một cuống hoa ở dưới vươn lên rồi tiếp đến các cánh hoa đổ ra hai phía bọc quanh một đài gương ở giữa. Hai cánh trên cùng đang ôm lấy gương sen, hai cánh tiếp nở vươn rộng ra hai bên và hai cánh dưới cùng đổ xuống phía dưới. Đơn giản như vậy nhưng vì các cánh sen này không bị gò bó trong một khuôn mẫu đăng đối nào nên trông rất sinh động. Nét bút của nghệ nhân ở đây tung hoành thoải mái. Khi thì nhấn mạnh tạo một mảng đậm cho một cánh sen, lúc lại nâng cao lướt nhẹ mô tả một chi tiết của cuống hoa hay của búp sen. Mỗi ô một hoa, mỗi hoa một kiểu dáng, thường đứng riêng lẻ một mình hoặc kết hợp với một vài cây cỏ và búp sen. Đặc biệt có đồ án trên một chiếc tháp gốm của Bảo tàng Hải Dương, nghệ nhân còn vẽ thêm nhiều búp sen và lá sen nhiều kiểu dáng, có lá bố cục theo lối nhìn chính diện từ trên xuống thành cả mảng tròn to, thấy rõ cả chi tiết các gân lá. Ở một liễn men nâu ở Bảo tàng Lịch sử Hà Nội, hoa sen lại bố cục thành hoa dây uốn lượn cong tròn đều. Cứ mỗi ô trống là một hoa sen, bố cục theo lối nhìn nghiêng, cánh hoa đổ ra hai phía như ở các đồ gốm hoa nâu khác. Dây hoa này có nhiều lá, có lá như một cánh sen, có lá lại giống lá của hoa cúc trông rất sinh động.
Hoa sen trong mỹ thuật thời Lê sơ
Vào thời Lê sơ, đạo Phật bị hạn chế, các chùa tháp không phát triển, nhưng hoa sen vẫn là loại đề tài được chú ý nhiều. Hoa sen không những được trang trí trên các bệ tượng Phật, trên các chân tảng cột chùa mà còn ở các thành bậc cung điện của triều đình và trên cả các bia tiến sĩ ở Văn Miếu.
Đồ án hoa sen ở mặt ngoài thành bậc các cung điện như ở bậc điện Kính Thiên (Hà Nội), điện Lam Kinh (Thanh Hóa), Văn Miếu (Hà Nội). Mặc dù dưới hình thức cuộn vòng của hoa dây, nhưng trung tâm vẫn là bông hoa sen. Hoa sen thể hiện theo kiểu nhìn nghiêng, thấy rõ cả từng lớp của hoa. Trong cùng là một búp hoa còn xếp kín chưa nở. Tiếp đó là các lớp cánh sen toả đều ra hai bên như bố cục hình nan quạt. Vì được cách điệu cao nên ở đây khó nhận ra các cánh sen quen thuộc.
Ở thành bậc điện Lam Kinh đồ án hoa sen cũng giống như ở thành bậc điện Kính Thiên. Đáng chú ý là có một số đồ án ở giữa không phải là chùm cánh, mà lại là cả một đài sen tạo thành một mảng to như hình lá sen, còn ở giữa là các hình xoắn cách điệu. Trên thành bậc cửa Văn Miếu (Hà Nội), các cánh sen vẫn thể hiện theo lối vân xoắn, gương sen ở giữa vẫn chạm lối nhìn nghiêng. Rõ ràng cả hoa sen của 3 thành bậc đều có chung một phong cánh thể hiện. Đó là lối vân xoắn cách điệu cao, đường nét chạm rành mạch sắc nét.
Đồ án hoa sen ở diềm bia: Một số bia thời Lê sơ như các bia tiến sĩ ở Văn Miếu (Hà Nội - 1484), bia chùa Cao (Hà Tây - 1505)... đều có trang trí hình hoa sen xen lẫn các hoa khác. Bố cục hoa sen theo kiểu nhìn nghiêng, còn các cánh hoa thì phần lớn đang chụm lại che kín đài gương, ở trên là 3 lớp cánh đang xếp sát nhau, phía dưới cũng có 3 cánh nhỏ đã nở rộng. Đó là trường hợp hoa sen diềm bia chùa Cao. Còn ở diềm bia Văn Miếu bố cục cũng như vậy nhưng có phần đơn giản hơn. Ở giữa là hai cánh sen ôm lấy đài gương, phía ngoài có 5 cánh nở đều ra các phía, giống hoa sen bệ chùa Ngọc Khám (Bắc Ninh - thế kỷ XVII)


Bộ Tam Thế chùa Khám Lạng
Hoa sen trên bệ tượng Phật: Các bệ tượng Phật thời Lê sơ, như bệ các chùa Khám Lạng (Bắc Giang - 1432), chùa Cao (Hà Tây-1505)... đều có trang trí cánh sen . Kiểu cách và chi tiết của các hoa văn này gần giống với các cánh sen trên các bệ thời Trần. Đặc biệt ở chùa Khám Lạng, ngoài các cánh sen to, còn có lớp cánh sen được chạm theo kiểu xếp gối lên nhau chỉ thấy nửa hình, cứ thế mà thành băng dài. Lối bố cục gối lên nhau này cũng đã thấy có ở thời Trần. Ở chùa Cung Kiệm, dưới chân bệ đá của tượng Phật niên đại 1449, còn thể hiện một đóa hoa sen nổi trên sóng nước, chạm theo lối nhìn hơi chếch nghiêng, các cánh sen nở vây quanh một búp sen ở giữa, lá phía ngoài hình sóng, bố cục đơn giải, ít chi tiết.


Hình tượng hoa sen trong nghệ thuật tạo hình Việt là một đề tài rất phong phú, được thể hiện ở rất nhiều các hình thức trang trí mỹ thuật và kiến trúc đặc trưng riêng cho mỗi thời kỳ lịch sử dân tộc. Nó không chỉ mang lại giá trị vật chất cho cuộc sống, mà còn mang giá trị tinh thần vô giá với người Việt. Chính vì vậy hình tượng hoa sen không chỉ là cảm hứng sáng tác của các nghệ nhân xưa, mà ngày nay các họa sĩ hiện đại vẫn có nhiều tác phẩm thành công với đề tài hoa sen, qua nhiều cách nhìn và ngôn ngữ tạo hình khác nhau, nhưng đều biểu đạt được giá trị thẩm mỹ vĩnh hằng của loài hoa đã thấm sâu vào tâm hồn dân tộc Việt.
3. Hoa sen trong văn hoá ẩm thực Việt Nam:
Từ ảnh hưởng của hoa sen trong đời sống tinh thần mà người dân Việt Nam đã đưa sen lên đỉnh cao của văn hóa ẩm thực.
Các bộ phận trên bông hoa sen được biến chế thành những món ăn đặc trưng, mang đậm một hương vị Việt Nam như gỏi ngó sen, mứt sen, trà sen. Sen hồ Tịnh Tâm của Cố đô Huế ngày xưa được dùng để ướp trà cho vua. Người ta ướp trà vào ban đêm. Khi sen vừa hé nhụy là lúc trời đất đang giao hoà, hương còn rất đượm. Trà được đặt vào trong lòng hoa rồi dùng dây buộc lại, ép không cho hoa nở ra, để qua hết đêm trà sẽ hấp thụ toàn bộ hương sen. Sáng hôm sau thì thu trà, trà sen Huế vì thế có hương thơm thanh khiết và đậm đà đến say lòng.
Chè sen Huế với hạt sen tươi, bóc vỏ, lột lớp lụa mỏng, xoi tim rồi đem chưng cách thủy, chưng với đường phèn thì hương mới thơm. Chè sen được múc trong bát cổ men sứ màu xanh nhỏ như “mắt trâu”, chỉ độ dăm bảy hạt sen vàng nở lươm tươm. Trong các dịp lễ tết hay kỵ giỗ, chè sen là món quan trọng gần như không thể thiếu trong lễ phẩm. Cúng xong, chỉ một bát thôi là đã thưởng thức đủ cái “quốc hồn quốc túy” của xứ Huế rồi!
Ngoài ra, người Huế còn dùng sen để nấu cơm sen rất nổi tiếng trong các món ăn truyền thống Huế. Cách nấu cơm sen cũng hết sức cầu kỳ, chỉ có những người phụ nữ Huế thực thụ tính tình điềm đạm có bản sắc “tôn nữ” mới nấu được cơm sen. Trong những món ăn “bát bửu”, cơm sen xuất hiện với một phong cách rất Huế. Những ai muốn thưởng thức món cơm sen Huế hãy đến cố đô vào mùa sen nở. Ngoài ra, còn có nhiều món ăn thượng vị từ sen Huế mang nhiều hương sắc và hương vị đậm đà.
Còn một nét đặc biệt nữa là người miền Bắc thường dùng dùng lá sen để gói cốm. Hương đồng, cỏ nội quấn quyện với hương đồng cỏ nội. Những hạt cốm xanh màu ngọc thạch trở nên dẻo và thơm lâu hơn khi nằm trong lòng chiếc lá sen tươi. Hương thơm dìu dịu của lá sen hoà quyện với hương cốm. Thật là một sự kết hợp hài hòa tuyệt vời mà bất cứ ai đã thưởng thức còn nhớ mãi.


CINET
(Tổng hợp theo: www.vanhoanghethuat.org.vn; danangpt.vnn.vn)

Hình tượng hoa sen trong văn hóa Việt Nam


Hoa Sen có vai trò và vị trí đặc biệt cả về tâm linh và văn hóa của người Việt. Từ bao đời nay, Hoa sen đã đi vào lòng người, đi vào cuộc sống và văn hoá của người Việt. Ngắm hoa sen chúng ta có thể thấy và nhận ra hình ảnh con người Việt Nam
Mặc dù sinh ra trong bùn lầy nhưng hoa sen không bị ô nhiễm mà lại có khả năng làm thay đổi hoàn cảnh sống, vì hoa sen hễ mọc ở nơi nào thì sẽ làm cho nước đục nơi đó lắng trong. Sen có cả hương lẫn sắc, nhưng hương sen không quá nồng mà dịu, gợi một tinh thần cao thượng. Sắc sen kín đáo, đằm thắm, cánh trắng phớt hồng, nhụy vàng. Từ khi nở đến khi tàn không hề bị ong bướm bén mảng tới. Qua bao ràng buộc để đến được chỗ khoáng đạt hư không, sen tiếp tục vươn lên dưới ánh mặt trời, khai nụ kết hoa, khoe sắc và xông hương tràn ngập không gian.
Sự hình thành của sen diễn ra theo qui luật nhân quả luân hồi. Sen có cả nụ - hoa - hạt. Hoa nở tượng trưng cho quá khứ, đài sen tượng trưng cho hiện tại và hạt sen tượng trưng cho tương lai, sự nối tiếp liên tục. Vì vậy, hoa sen trở thành biểu tượng trong nghệ thuật Phật giáo của Phương Đông. Nó tượng trưng cho vẻ đẹp thần bí, huyền ảo, tư tưởng sâu kín. Bông hoa sen cũng tượng trưng cho sự thanh cao, bất khuất của người quân tử, giữ chặt lòng mình trước cám dỗ của lợi danh, giữ cho mình sự trong sạch dù ở giữa chốn bùn nhơ
Từ ý nghĩa tâm linh ấy, bông hoa này đã đi vào tâm thức của người Việt Nam, trở thành hình tượng trong kiến trúc và điêu khắc của người Việt xưa, trong nghệ thuật, trong văn học, ẩm thực…
Cho đến tận hôm nay, khi bạn bè quốc tế đến với Việt Nam thì hình ảnh đầu tiên họ gặp là bông sen vàng trên những chuyến bay của Vietnamairline, hình ảnh biểu hiện cho sự khai sáng và hoàn mỹ; vừa đời thường lại vừa cao quý, linh thiêng; vừa duyên dáng, mềm mại, nhưng không kém phần cứng cáp, đĩnh đạc, tượng trưng cho những con người Việt Nam dũng cảm kiên cường nhưng đôn hậu và cởi mở.
Biểu tượng Hoa sen trên Trang tin điện tử Bộ Văn hoá – Thông tin (Cinet) - kênh thông tin tuyên truyền chính thức về văn hoá Việt Nam - cũng chính là để thêm một lần khẳng định: “Hoa sen – Con người Việt, Tâm hồn Việt, Văn hoá Việt”.

1. Hình tượng hoa sen trong văn học nghệ thuật
Khi nói đến Sen, Là người Việt Nam chắc hẳn ai cũng thuộc câu ca dao:

"Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".
Khi xưa, Mạc Đĩnh Chi khi đứng trước vua Trần Anh Tông đã thể hiện rõ phẩm chất của mình qua bài phú “Ngọc tỉnh liên” (Hoa sen trong giếng ngọc): Vì hoa sen vốn có tiết tháo thanh cao, không hoa nào sánh được, tuy gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn; vả lại sen này lại trồng trong giếng ngọc nữa thì sen càng cao quý biết bao. Ông như sen, dù có phải ở vào hoàn cảnh ô trọc thế nào thì cũng vẫn giữ khí tiết thanh cao, huống chi ở phải vào một thời tốt đẹp, vua minh chánh thì người ông càng cao quý biết mấy. Sen quý nhưng phải có người sành mới biết thưởng thức…”
Làng quê nơi Bác sinh ra cũng có tên là Làng Sen, và có lẽ hoa sen đẹp nhất khi được ví với hình tượng Bác Hồ, người cha già dân tộc, vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta:


"Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ"
...
2. Hoa sen trong mỹ thuật truyền thống của người Việt

Ở Việt Nam, đề tài hoa sen xuất hiện khá sớm trong nghệ thuật tạo hình, hầu như ở thời nào cũng được các nghệ nhân thể hiện trong các đồ án trang trí của nơi thờ tự hoặc ở các công trình văn hóa của cộng đồng. Sen được khai thác, phản ánh dưới nhiều góc độ bố cục khác nhau, xuất hiện hằng xuyên theo chiều dài của lịch sử dân tộc qua những công trình kiến trúc.
Hoa sen trong mỹ thuật thời Đinh - Tiền Lê
Trên một số viên gạch lát nền cỡ lớn tại khu vực đền vua Đinh và đền vua Lê, ngoài đề tài trang trí chim phượng còn có đề tài hoa sen. Đồ án về các hoa sen ở đây gồm 4 loại.
Loại hoa sen có 16 cánh thường được thể hiện nổi trên các viên gạch vuông cỡ lớn. Nhìn chính diện (từ trên xuống), họa tiết được bố cục chung dưới dạng một mặt tròn nằm giữa viên gạch, gồm 3 lớp. Lớp ngoài cùng là 16 cánh sen xếp đều nhau kết thành một vành tròn đều đặn. Lớp giữa gồm những vân xoắn đơn được xếp cùng chiều, nối lưng nhau thành một vành tròn thứ hai, có lẽ thể hiện nhụy hoa. Lớp trong cùng là một hình tròn điểm 13 chấm nổi, thể hiện hình gương sen với các hạt. Mười ba hạt sen được sắp xếp thành các cạnh từ trung tâm chạy ra 8 phía, cân đối, đều đặn. Các cánh sen không chạm thêm chi tiết gì ngoài một đường gờ nhỏ viền theo chu vi của cánh. Loại đồ án hoa sen 16 cánh này còn gặp nhiều ở thời kỳ sau, ở các tảng đá kê chân cột cho nên phần giữa và phần nhị hoa không chạm khắc gì và nó có nhiều nét tương đồng với các đồ án trang trí ở Trung Quốc và Nhật Bản.
Loại hoa sen 14 cánh được trang trí trên một đài sen bằng đất nung, cao xấp xỉ 10,5cm. Đài sen hình tròn, trang trí một hình hoa 14 cánh ở giữa và bao quanh sen là đồ án hoa cúc dây và một băng các chấm tròn. Trong trường hợp này, sen cũng bố cục theo lối nhìn chính diện từ trên xuống, được chia thành 3 lớp như kiểu hoa sen 16 cánh. Lớp thứ hai làm nhụy hoa ở đây rất hẹp, các nhụy được thể hiện như những đường gạch chéo nhỏ. Lớp trong cùng (gương sen) đã có số ụ tròn (thể hiện hạt sen) nhiều tới 21 hạt, gồm một hạt tương đối to ở giữa và 20 hạt nhỏ bao quanh thành 2 vòng (vòng trong 8 và ở vòng ngoài là 12). Đồ án này khắc họa khá tỉ mỉ. Các hạt sen ở giữa đều được thể hiện kép bằng 2 vòng tròn đồng tâm còn trong lòng các cánh sen không những có gờ viền quanh mà còn điểm cả vân lá. Phía ngoài hoa sen là một băng hoa dây mảnh kiểu dây leo tay mướp (có nhiều vào các thời sau). Ngoài cùng là những hình chấm tròn to, mỗi chấm được bao quanh bằng hai đường tròn đồng tâm như kiểu các hạt sen ở giữa.
Loại hoa sen 8 cánh cũng được thể hiện theo lối nhìn chính diện từ trên xuống. Ngoài 8 cánh chính, có 8 cánh phụ ken giữa từng cặp cánh chính. Họa tiết này được trang trí trên mặt hai loại gạch, một có dạng vuông, cỡ 34 x 34cm và một có dạng hình chữ nhật, cỡ 74cm x 34cm. Loại gạch vuông hoa sen bố cục ở giữa, còn loại chữ nhật thì người ta phân đôi viên gạch, hai hoa sen trang trí hai phía. Hoa sen cánh to và ngắn, trong lòng cánh có đường viền. Phần hình tròn thể hiện gương sen ở giữa, với 9 chấm tròn thể hiện hình ảnh của các hạt sen được bố cục với một hạt to ở giữa và 8 hạt nhỏ hơn phân đều ra các phía thành một vòng tròn. Đáng chú ý là giữa cánh sen và gương sen không có lớp nhụy sen như hai đồ án trên mà chỉ là một băng để trơn.
Loại hoa sen số cánh không cố định khá đa dạng, được trang trí ở đầu các ngói ống giọt gianh. Có loại cánh sen thon dài, mũ sen vát; có loại nhỏ, ngắn; có loại to mập; có loại dài có đường gờ xen giữa hai cánh. Số lượng cánh cũng không cố định, có loại 7 cánh , có loại 8, 9 cánh, tất cả đều cách điệu đơn giản, chỉ có cánh sen và đài gương. Có khi đài gương cũng không có hạt sen.
4 loại đồ án hoa sen trên là những đồ án khá đẹp, chứng tỏ tuy các thời Đinh - Tiền Lê ngắn ngủi nhưng cũng đã sáng tạo ra những sản phẩm có dấu ấn đặc trưng trong lịch sử mỹ thuật nước nhà.
Hoa sen trong mỹ thuật thời Lý
Đây là thời kỳ mà Phật giáo phát triển mạnh, được coi như quốc giáo và trang trí hoa sen được ứng dụng rất nhiều với các đài hoa sen, các bệ tượng Phật bằng hoa sen, các kiến trúc hình hoa sen. Những tảng đá kê chân cột cho đến diềm cửa tháp, diềm bệ tượng và cả đồ gốm... hễ đâu có điều kiện thích hợp là nghệ nhân dùng ngay hoa sen để trang trí. Đặc biệt các công trình liên quan đến Phật giáo thì đề tài hoa sen càng được sử dụng nhiều.
Loại đồ án hình hoa sen đỡ chân cột: Do yêu cầu chống mối mọt và ẩm thấp nên các chân cột đều được kê đá. Tận dụng điều đó, các nghệ nhân đã trang trí các cánh sen viền quanh, tạo cảm giác như toàn bộ ngôi chùa được dựng trên các đóa hoa sen. Hoa sen chân cột có phần giống với hoa sen trên các viên gạch ở thời Đinh - Lê, được bố cục các cánh thành một vòng tròn theo kiểu nhìn chính diện từ trên xuống. Hoa bao gồm 16 cánh chính và 16 cánh phụ. Điều khác nhau là các đồ án này của thời Lý không thể hiện phần nhị sen và gương sen, có lẽ vì cột che khuất. Đáng chú ý là lòng của các cánh sen thời Lý ở các di tích liên quan tới vua, thường được chạm thêm đôi rồng dâng chầu lá đề. Nét chạm tỉ mỉ tinh tế, tôn thêm vẻ cao quý của cánh sen. Loại đồ án này còn thấy trên một số đồ gốm men ngọc thời này.
Loại đồ án hoa sen đỡ các vật thiêng, là hình các đài sen trong tư thế nhìn nghiêng, như đài sen làm bệ đỡ cho các chân chim phượng, trong các đồ án phượng múa ở các thành bậc (ở chùa bà Tấm, Hà Nội), hoa sen làm bệ đỡ cho các vật thiêng bố cục trong hình lá đề, hoặc trong các đồ án dàn nhạc, thiên thần, về rồng chầu (ở chùa Phật Tích)... Trong đó các đài sen thường đỡ các lá đề.
Loại đồ án hoa văn hoa sen kết hợp hoa dây và hoa thiêng khác thành băng dọc ở diềm cửa tháp hay ở bệ tượng, nay còn thấy ở di tích chùa Long Đọi, tháp Chương Sơn. Nghệ nhân bố cục thay đổi một hoa sen lại đến một hoa cúc, được thể hiện trong những vòng tròn của hoa dây. Cả vòng tròn này lại gần như tiếp tuyến nhau và chỗ gặp nhau là hình các thiên thần nhỏ bé đang trong động tác múa. Những hoa dây ở đây mang tính chất ước lệ, trên thực tế lá sen, lá cúc đã cách điệu khác hẳn thực tế. Bố cục của đồ án hoa sen trong các trường hợp này thường theo kiểu nhìn nghiêng hơi chếch để thấy cả gương sen với hạt sen. Các cánh sen cũng chia làm hai lớp như loại đồ án đài sen đỡ vật thiêng, nhưng lớp dưới của nó vừa làm đài đỡ vừa biến thành một vòng tròn ôm trọn lấy cả phần trên của gương sen. Tuy cách điệu khá cao nhưng đồ án hoa văn sen này được xếp vào loại có bố cục chuẩn nhất, cân đối và đơn giản trong đường nét mà vẫn mô tả được cái dáng vẻ riêng của hoa sen.
Loại đồ án hoa sen trên gốm men ngọc được trang trí trong lòng một chiếc bát men ngọc (hiện vật trưng bày của Bảo tàng lịch sử Hà Nội). Bát vào loại nhỏ, có màu men ngà hơi chuyển sang màu vàng nâu sẫm. Nghệ nhân gốm khắc chìm hình hoa văn lên đất, sau đó tráng men và đem nung. Đó cũng là kỹ thuật phổ biến của các đồ gốm men ngọc thời Lý. Các hoa sen được thể hiện theo lối nhìn nghiêng, trang trí ở trong lòng bát. Cuống hoa quay vào tâm bát, cứ một bông hoa sen lại một bông hoa cúc, chúng hoàn toàn độc lập với nhau. Tổng cộng có 3 hoa sen và 3 hoa cúc. Hoa sen gồm nhiều cánh, nở rộng ra 2 phía với bố cục tuân thủ sự cân xứng trong toàn bộ đồ án trang trí.
Hoa sen trong mỹ thuật thời Trần
Sang thời Trần, đề tài hoa sen vẫn được kế tục khai thác như trong tạo hình thời Lý. Đáng chú ý, trên một số gốm hoa nâu thời này xuất hiện các đồ án hoa sen với phong cách hiện thực sinh động. Một điều duy nhất để phân biệt là: các hoa văn trong lòng cánh sen thời Lý đôi khi có hình rồng, hoặc hoa dây, mà thời Trần hoàn toàn không có. Cánh sen thời Trần thường chỉ chạm thêm một đường gờ chìm viền theo mép cánh và ở trung tâm mỗi cánh đôi khi được điểm các hạt tròn trong một bố cục cân xứng khá chặt chẽ.



Đài Sen thế kỷ 11-12
Đồ án hoa sen đỡ các vật thiêng thời Trần khá phong phú như đồ án đỡ chân chim phượng trên trán bia chùa Tổng (Hưng Yên), đỡ các hình lá đề trong đồ án ở chùa Thái Lạc, chùa Dâu (Bắc Ninh), ở các chân cột, cốn, nhất là ở cửa chùa Thái Lạc, đài sen đỡ phía dưới các tượng phỗng, một đề tài chuẩn của thời kỳ này. Trên các bệ tượng Phật của thời Trần đều chạm thành những đài sen lớn. Cánh sen có 2 hoặc ba lớp, xen kẽ nhau, thể hiện thành những khối nổi, không còn chỉ là hoa văn nữa. Tuy nhiên cũng có những bệ lớp phía dưới cùng lại chỉ chạm nông thành một viền hoa văn trang trí, các cánh sen được chạm nối tiếp nhau vòng quanh bệ, hình thức thường to khoẻ, chen khít dăng thành hàng dài nhiều khi thì bố cục nghiêng mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là cánh sen vẹo. Trong lòng các cánh sen thường chạm thêm những hình hoa kết hợp bởi các ô tròn.
Đồ án hoa sen cách điệu thành hoa dây được sử dụng khá nhiều trên kiến trúc của chùa Thái Lạc. Và có lẽ đây cũng là ngôi chùa duy nhất có đồ án trang trí này. Hoa sen chạy dài phía dưới đôi rồng đang trịnh trọng dâng chầu lá đề, hay uốn lượn phía trên các “tầng mây”, nơi có hình các tiên nữ đầu người mình chim đang vừa múa vừa dâng hoa.
Hoa văn hoa sen trên gốm hoa nâu: Gốm hoa nâu được ra đời vào cuối thời Lý và phát triển mạnh ở thời Trần, gồm nhiều loại, kiểu dáng khác nhau. Có loại to như chậu, ang, thạp. Có loại nhỏ như bát, đĩa, liễn,... Hiện vật ngày nay còn lại ở một số bảo tàng như Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Mỹ thuật hoặc các bảo tàng địa phương ở Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Thanh Hóa, Hà Tây.v.v... Một số khác nằm ở các sưu tập tư nhân trong và ngoài nước. Trên các đồ gốm này thường được chia thành ô hoặc thành băng để trang trí bằng cách dùng bút vẽ lên xương đất, sau đó tráng men và kẻ vạch rồi mới đem nung. Đề tài trang trí gồm nhiều loại mà trong đó hoa sen chiếm số lượng lớn. Hoa văn hoa sen có loại đơn giản, chỉ vẽ vạch mấy nét mà thành, như trường hợp một chiếc âu trong sưu tập của Bảo tàng quốc gia Bỉ, phần lớn chúng được vẽ theo lối nhìn nghiêng... Từ một cuống hoa ở dưới vươn lên rồi tiếp đến các cánh hoa đổ ra hai phía bọc quanh một đài gương ở giữa. Hai cánh trên cùng đang ôm lấy gương sen, hai cánh tiếp nở vươn rộng ra hai bên và hai cánh dưới cùng đổ xuống phía dưới. Đơn giản như vậy nhưng vì các cánh sen này không bị gò bó trong một khuôn mẫu đăng đối nào nên trông rất sinh động. Nét bút của nghệ nhân ở đây tung hoành thoải mái. Khi thì nhấn mạnh tạo một mảng đậm cho một cánh sen, lúc lại nâng cao lướt nhẹ mô tả một chi tiết của cuống hoa hay của búp sen. Mỗi ô một hoa, mỗi hoa một kiểu dáng, thường đứng riêng lẻ một mình hoặc kết hợp với một vài cây cỏ và búp sen. Đặc biệt có đồ án trên một chiếc tháp gốm của Bảo tàng Hải Dương, nghệ nhân còn vẽ thêm nhiều búp sen và lá sen nhiều kiểu dáng, có lá bố cục theo lối nhìn chính diện từ trên xuống thành cả mảng tròn to, thấy rõ cả chi tiết các gân lá. Ở một liễn men nâu ở Bảo tàng Lịch sử Hà Nội, hoa sen lại bố cục thành hoa dây uốn lượn cong tròn đều. Cứ mỗi ô trống là một hoa sen, bố cục theo lối nhìn nghiêng, cánh hoa đổ ra hai phía như ở các đồ gốm hoa nâu khác. Dây hoa này có nhiều lá, có lá như một cánh sen, có lá lại giống lá của hoa cúc trông rất sinh động.
Hoa sen trong mỹ thuật thời Lê sơ
Vào thời Lê sơ, đạo Phật bị hạn chế, các chùa tháp không phát triển, nhưng hoa sen vẫn là loại đề tài được chú ý nhiều. Hoa sen không những được trang trí trên các bệ tượng Phật, trên các chân tảng cột chùa mà còn ở các thành bậc cung điện của triều đình và trên cả các bia tiến sĩ ở Văn Miếu.
Đồ án hoa sen ở mặt ngoài thành bậc các cung điện như ở bậc điện Kính Thiên (Hà Nội), điện Lam Kinh (Thanh Hóa), Văn Miếu (Hà Nội). Mặc dù dưới hình thức cuộn vòng của hoa dây, nhưng trung tâm vẫn là bông hoa sen. Hoa sen thể hiện theo kiểu nhìn nghiêng, thấy rõ cả từng lớp của hoa. Trong cùng là một búp hoa còn xếp kín chưa nở. Tiếp đó là các lớp cánh sen toả đều ra hai bên như bố cục hình nan quạt. Vì được cách điệu cao nên ở đây khó nhận ra các cánh sen quen thuộc.
Ở thành bậc điện Lam Kinh đồ án hoa sen cũng giống như ở thành bậc điện Kính Thiên. Đáng chú ý là có một số đồ án ở giữa không phải là chùm cánh, mà lại là cả một đài sen tạo thành một mảng to như hình lá sen, còn ở giữa là các hình xoắn cách điệu. Trên thành bậc cửa Văn Miếu (Hà Nội), các cánh sen vẫn thể hiện theo lối vân xoắn, gương sen ở giữa vẫn chạm lối nhìn nghiêng. Rõ ràng cả hoa sen của 3 thành bậc đều có chung một phong cánh thể hiện. Đó là lối vân xoắn cách điệu cao, đường nét chạm rành mạch sắc nét.
Đồ án hoa sen ở diềm bia: Một số bia thời Lê sơ như các bia tiến sĩ ở Văn Miếu (Hà Nội - 1484), bia chùa Cao (Hà Tây - 1505)... đều có trang trí hình hoa sen xen lẫn các hoa khác. Bố cục hoa sen theo kiểu nhìn nghiêng, còn các cánh hoa thì phần lớn đang chụm lại che kín đài gương, ở trên là 3 lớp cánh đang xếp sát nhau, phía dưới cũng có 3 cánh nhỏ đã nở rộng. Đó là trường hợp hoa sen diềm bia chùa Cao. Còn ở diềm bia Văn Miếu bố cục cũng như vậy nhưng có phần đơn giản hơn. Ở giữa là hai cánh sen ôm lấy đài gương, phía ngoài có 5 cánh nở đều ra các phía, giống hoa sen bệ chùa Ngọc Khám (Bắc Ninh - thế kỷ XVII)


Bộ Tam Thế chùa Khám Lạng
Hoa sen trên bệ tượng Phật: Các bệ tượng Phật thời Lê sơ, như bệ các chùa Khám Lạng (Bắc Giang - 1432), chùa Cao (Hà Tây-1505)... đều có trang trí cánh sen . Kiểu cách và chi tiết của các hoa văn này gần giống với các cánh sen trên các bệ thời Trần. Đặc biệt ở chùa Khám Lạng, ngoài các cánh sen to, còn có lớp cánh sen được chạm theo kiểu xếp gối lên nhau chỉ thấy nửa hình, cứ thế mà thành băng dài. Lối bố cục gối lên nhau này cũng đã thấy có ở thời Trần. Ở chùa Cung Kiệm, dưới chân bệ đá của tượng Phật niên đại 1449, còn thể hiện một đóa hoa sen nổi trên sóng nước, chạm theo lối nhìn hơi chếch nghiêng, các cánh sen nở vây quanh một búp sen ở giữa, lá phía ngoài hình sóng, bố cục đơn giải, ít chi tiết.


Hình tượng hoa sen trong nghệ thuật tạo hình Việt là một đề tài rất phong phú, được thể hiện ở rất nhiều các hình thức trang trí mỹ thuật và kiến trúc đặc trưng riêng cho mỗi thời kỳ lịch sử dân tộc. Nó không chỉ mang lại giá trị vật chất cho cuộc sống, mà còn mang giá trị tinh thần vô giá với người Việt. Chính vì vậy hình tượng hoa sen không chỉ là cảm hứng sáng tác của các nghệ nhân xưa, mà ngày nay các họa sĩ hiện đại vẫn có nhiều tác phẩm thành công với đề tài hoa sen, qua nhiều cách nhìn và ngôn ngữ tạo hình khác nhau, nhưng đều biểu đạt được giá trị thẩm mỹ vĩnh hằng của loài hoa đã thấm sâu vào tâm hồn dân tộc Việt.
3. Hoa sen trong văn hoá ẩm thực Việt Nam:
Từ ảnh hưởng của hoa sen trong đời sống tinh thần mà người dân Việt Nam đã đưa sen lên đỉnh cao của văn hóa ẩm thực.
Các bộ phận trên bông hoa sen được biến chế thành những món ăn đặc trưng, mang đậm một hương vị Việt Nam như gỏi ngó sen, mứt sen, trà sen. Sen hồ Tịnh Tâm của Cố đô Huế ngày xưa được dùng để ướp trà cho vua. Người ta ướp trà vào ban đêm. Khi sen vừa hé nhụy là lúc trời đất đang giao hoà, hương còn rất đượm. Trà được đặt vào trong lòng hoa rồi dùng dây buộc lại, ép không cho hoa nở ra, để qua hết đêm trà sẽ hấp thụ toàn bộ hương sen. Sáng hôm sau thì thu trà, trà sen Huế vì thế có hương thơm thanh khiết và đậm đà đến say lòng.
Chè sen Huế với hạt sen tươi, bóc vỏ, lột lớp lụa mỏng, xoi tim rồi đem chưng cách thủy, chưng với đường phèn thì hương mới thơm. Chè sen được múc trong bát cổ men sứ màu xanh nhỏ như “mắt trâu”, chỉ độ dăm bảy hạt sen vàng nở lươm tươm. Trong các dịp lễ tết hay kỵ giỗ, chè sen là món quan trọng gần như không thể thiếu trong lễ phẩm. Cúng xong, chỉ một bát thôi là đã thưởng thức đủ cái “quốc hồn quốc túy” của xứ Huế rồi!
Ngoài ra, người Huế còn dùng sen để nấu cơm sen rất nổi tiếng trong các món ăn truyền thống Huế. Cách nấu cơm sen cũng hết sức cầu kỳ, chỉ có những người phụ nữ Huế thực thụ tính tình điềm đạm có bản sắc “tôn nữ” mới nấu được cơm sen. Trong những món ăn “bát bửu”, cơm sen xuất hiện với một phong cách rất Huế. Những ai muốn thưởng thức món cơm sen Huế hãy đến cố đô vào mùa sen nở. Ngoài ra, còn có nhiều món ăn thượng vị từ sen Huế mang nhiều hương sắc và hương vị đậm đà.
Còn một nét đặc biệt nữa là người miền Bắc thường dùng dùng lá sen để gói cốm. Hương đồng, cỏ nội quấn quyện với hương đồng cỏ nội. Những hạt cốm xanh màu ngọc thạch trở nên dẻo và thơm lâu hơn khi nằm trong lòng chiếc lá sen tươi. Hương thơm dìu dịu của lá sen hoà quyện với hương cốm. Thật là một sự kết hợp hài hòa tuyệt vời mà bất cứ ai đã thưởng thức còn nhớ mãi.


CINET
(Tổng hợp theo: www.vanhoanghethuat.org.vn; danangpt.vnn.vn)



Đôi mắt trẻ thơ



( Ảnh chỉ mang tính minh họa )


…Nó đến lớp học hôm nay với tâm trạng thật lạ: Không vui, không buồn, không uể oải. Hôm nay có lẽ là buổi học cuối cùng của nó ở ngôi trường tiểu học này. Ngồi trong lớp học nhưng đôi mắt nó nhìn bao quát như muốn thâu tóm tất cả những hình ảnh quen thuộc : Ngôi trường, dãy bàn học, hình ảnh cô giáo, và những lũ bạn trong lớp - Kể cả những đứa đã từng chọc ghẹo nó. Thật lạ là nó chẳng có cảm giác ghét bỏ, hay còn giận chúng nó như những ngày trước đó. Những ngày sau nó sẽ không còn gặp chúng nó nữa…Một cảm giác buồn xâm chiếm tâm hồn nó.

- Hôm nay là ngày Noel, bạn có được tặng quà không? - Bé Thảo hỏi.

- Không! - Nó trả lời khô khốc với vẻ mặt buồn xa xăm.

Điều lạ nhất với nó có lẽ lũ trẻ trong lớp gần đây đã không còn trêu chọc nó nữa. Còn nhớ cách đây không lâu, trong giờ ra chơi lũ trẻ xóm lại bàn tán trò chuyện với nhau. Thằng Long béo khoe: “ Bố tớ là bộ đội nhé, bố tớ có cây súng rất dài !”. Con Thảo chen vào: “ Mẹ mình làm giám đốc oai lắm nhé! đi đâu cũng có xe otô đưa đón, mình muốn cái gì mẹ cũng mua.”. Thằng Minh lí lắc tham gia góp chuyện: “ Chẳng bằng bố tớ đâu nhé! Bố tớ làm bác sĩ nhiều tiền lắm, nhà tớ ở bốn tầng, đi đâu bố cũng lái xe đưa tớ đi. Sướng lắm nhé! ”…Đứa nào cũng tranh nhau kể về bố mẹ của mình. Lũ trẻ luôn luôn tự hào về bố mẹ của chúng, như thể bố mẹ của chúng là nhất trên đời ! Nhưng với nó, nó chẳng biết bố nó là ai cả, một vài lần hỏi mẹ, nó thấy mẹ nó khóc. Mẹ luôn lảng tránh câu hỏi của nó :“ Lớn lên con sẽ hiểu !” Thương mẹ, nó không bao giờ hỏi nữa. Nó mới chỉ biết bố qua những gì mẹ kể, nghe mẹ kể lại nó vẫn khóc! nó khóc vì tại sao bố mẹ nó thương nhau nhưng lại không ở với nhau, vì cái cảm giác thiếu vắng cha không gì có thể bù đắp nổi ấy … Nó thèm một vòng tay ấm áp và che chở của cha biết bao - một người cha mà nó tưởng tượng...và nó biết chắc rằng cha cũng thương yêu và nhớ nó lắm, nó biết thế....Còn mẹ làm nghề gì nó cũng chẳng biết. Nó định khoe với chúng nó: “ Mẹ tớ đẹp và xinh lắm nhé ! Rất đẹp! ” nhưng không dám, vì sợ…Một nỗi sợ mơ hồ! Lũ trẻ chóng quên nhưng lại hay nhớ...Chúng nhớ tất cả những gì người lớn vô tư nói với nhau.

Nó sợ lũ bạn sẽ trêu chọc và diểu cợt nó như những lần trước…Chẳng biết đứa nào xướng lên : “ Mẹ thằng Thảo là cave …là chân dài nhé! Nhà nó ở xóm cave…!”.Thế là lũ trẻ a dua theo: “ Nghỉ chơi với thằng Thảo, mẹ nó là cave ! ” “ Lêu…Lêu…là cave !” Nó bật khóc vì ấm ức.Với suy nghĩ của nó, từ "cave" thật khó nghe, mặc dù chẳng hiểu cave là gì, tại sao mọi người lại diểu cợt và khinh bỉ như thế nhỉ? Mẹ nó và mọi cô gái sống ở " Xóm cave " đều là người tốt nhưng tại sao mọi người xung quanh lại luôn xa lánh, ghẻ lạnh với họ, nhưng nó lờ mờ hiểu ra rằng cave đồng nghĩa với nhơ nhớp, bẩn thỉu và vô liêm sỉ. Không như thế làm sao lũ bạn lại cười cợt, chế diễu và khinh miệt như thế ? Người lớn nói được thì trẻ con cũng có thể bắt chước, thỉnh thoảng cái từ cave đáng khinh bỉ lại được lũ trẻ nhắc đến một cách hồn nhiên và vô tư. Mỗi lần như thế, nó thường co rúm người lại lầm lì và cô độc. Nó không muốn trò chuyện với đứa nào trong lớp, đôi khi cả với mẹ nó, nó cũng giận cả mẹ nhưng chẳng hiểu vì cái gì.

Lũ trẻ ở trong lớp không bao giờ chơi với nó thật, nhiều khi nó muốn được tham gia vào những trò chơi bắn bi, trốn tìm cùng chúng nó…Thế nhưng, thấy nó là lũ trẻ lảng tránh, nên nó thường đứng ngắm nhìn lũ trẻ chơi qua cửa sổ với đôi mắt buồn hiu.

Cũng có lần nó đánh lộn với thằng Minh lí lắc ở trong lớp vì dám trêu chọc “ Mẹ nó là cave !” Lần đó cả hai đứa đều bị cô giáo phạt. Thằng Minh lí lắc thì khóc hu... hu..., còn nó hai con mắt ráo hoảnh, lạnh lùng như không có chuyện gì xảy ra “ Ai bảo dám nói mẹ của nó là cave kia chứ! ”. Sau lần đó, cô giáo tìm đến dãy nhà trọ gặp mẹ nó để trò chuyện. Nó sợ bị mẹ đánh nên trốn ra ngoài hiên đứng. Hình như mẹ nó khóc khi nghe cô giáo nói thì phải, Nó chẳng hiểu hai người nói những gì…nhưng thỉnh thoảng, nó nghe cô giáo nó nói “… Nào là đứa trẻ tự kỷ…tổn thương tâm hồn…Rồi tương lai…” Cô giáo nói với vẻ quan trọng lắm. Nó sợ…sợ bị mẹ đánh như một vài lần trước, nên bật khóc từ bao giờ.

Mẹ nó nhìn nó trân trân với đôi mắt đỏ hoe. Mẹ nó chẳng thấy nó khóc bao giờ nên thật sự ngạc nhiên, ngoài những lần ăn mấy cái tát vào mặt vì…lười học. Nó nhìn mẹ qua nước mắt, mẹ hôm nay cũng thật lạ: Mẹ làm sao mà ngây như phỗng thế …Mẹ nhẹ nhàng đến bên nó, ôm nó vào lòng vỗ về: " Mẹ xin lỗi con! Con trai khóc là xấu nhé, ai lại khóc thế bao giờ kia chứ…” Đôi mắt mẹ nó đỏ hoe, nó thấy thương mẹ quá !...

Mãi suy nghĩ vẫn vơ, nó không để ý cô giáo đã bước đến bên cạnh nó tự lúc nào:

- Cô xin thông báo với cả lớp một thông tin quan trọng. Tập thể lớp 3A chúng ta gồm 40 thành viên gắn bó với nhau từ đầu năm học đến nay, rất tiếc từ ngày mai sẽ thiếu vắng một thành viên trong lớp, bạn Nguyễn Hoàng Thảo vì điều kiện gia đình nên sẽ chuyển trường vào miền Nam…- Cô giáo chậm rãi nói, lũ trẻ lặng im phăng phắc, có đứa ngoái đầu nhìn nó, không khí lớp học chùng xuống.

-…Bạn Thảo luôn là con ngoan, trò giỏi, luôn là người bạn tốt với mọi người đúng không ? Các con có thương bạn Thảo không? Có nhớ về bạn Thảo không ? Thỉnh thoảng các con viết thư thăm hỏi và cùng thi đua học tập với bạn Thảo nhé ! Các con có nhớ bạn Thảo không ?

- Thưa cô có ! thưa cô có ! - cả lớp nhao nhao.

- Bạn nào có thể hát tặng bạn Thảo một bài hát nào ? - Cô giáo hỏi.

Một vài cánh tay rụt rè, rồi cả rừng cánh tay giơ lên “ Em cô! Em cô!..Thưa cô! em xin hát tặng bạn Thảo một bài hát.” Một vài đứa nghêu ngao hát. Cả lớp vỗ tay rần rần…Có đứa nhìn nó với cặp mắt ươn ướt như muốn khóc. Chưa bao giờ nó thấy xúc động và được quan tâm như thế…Nó nhìn bé Thảo, Long béo, Minh lí lắc và mọi người trong lớp với một cái nhìn trìu mến, ấm áp, thân thương. Rất đỗi thân thương !

- Oh ! Ông già Noel…- Lũ trẻ hú lên khoái trá.Cả lớp nhốn nháo nhìn ra cửa lớp

- Không phải ông già Noel thật đâu nhé! Mẹ tớ bảo ông già Noel phải đi xe trượt với sáu con tuần lộc mới phải…Thằng Minh ( Biệt hiệu Minh lí lắc) thì thầm tỏ vẻ hiểu biết.

- Oh ! Ông già Noel tặng quà…Tất cả cười hồn nhiên và sung sướng, nó cũng cười - những nụ cười hiếm hoi, vì ít khi nó cười như thế - Cả lớp học xôn xao, ồn ào như vỡ chợ, có đứa còn nhoài cả người ra cửa để đếm ông già Noel “ Một ông già Noel,… hai ông già Noel…” Các ông già Noel nhanh chóng tỏa đi các lớp. Cô giáo cố gắng vãn hồi trật tự của lớp học bằng cây thước gõ liên tục lên bàn nhưng vẻ mặt cô cũng rất vui vì không khí của ngày lễ giáng sinh.

Một ông già Noel còn trẻ tiến đến gần lớp học của nó, ngước nhìn bảng lớp học 3A, trò chuyện với cô giáo của nó, rồi bước vào phòng trịnh trọng đứng giữa lớp:

- Ta là ông già Noel, nhân dịp giáng sinh ta xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến tất cả các con cùng gia đình. Chúc mọi người sức khỏe, an lành, ngập tràn hạnh phúc trong đêm giáng sinh… Lũ trẻ lặng im, hồi hộp không phải lắng nghe những gì ông già Noel nói mà chăm chăm chú nhìn vào túi quà màu đỏ trên vai ông già Noel đang vác trên vai.

- Ông già Noel vào nhà tặng quà phải chui qua ống khói kia…Họ đóng giả đấy mà !- Một đứa khác phụ họa, nhưng tất cả đều lạc lõng trong niềm vui hồn nhiên. Chúng nó cũng chẳng cần quan tâm ông già Noel là giả hay thật. Chúng tin ông già Noel là người thật phác thực, yêu trẻ, tốt bụng và luôn quan tâm đến mọi đứa trẻ.Và ông đang đứng hiện hữu ở trước lớp với một con người bằng xương bằng thịt hẳn hoi đấy chứ .

- Cháu nào là : Nguyễn Hoàng Thảo nhỉ ? - Ông già Noel hỏi, mọi con mắt đổ dồn về phía nó, nó ngượng ngùng đứng dậy.

- Ta là ông già Noel ! Ta trân trọng chào cháu Nguyễn Hoàng Thảo. Nhân dịp giáng sinh ta chúc cháu luôn chăm ngoan, học giỏi, vâng lời bố mẹ, và hiếu thảo với mọi người xung quanh. Đây là quà của cháu !…Ông già Noel bước đến xoa đầu nó, vỗ về nó và trao cho nó một hộp quà màu đỏ. Mọi con mắt của lũ trẻ trong lớp đổ dồn nhìn nó với con mắt ganh tỵ. Nó thật sự ngạc nhiên! Hình như ông già Noel biết được những nỗi buồn đau trong tâm hồn của nó thì phải, những nỗi buồn vô tình gặm nhấm tuổi thơ của nó trong những ngày qua.

- Ông già Noel ơi ! Cho cháu quà ! - Một vài đứa gào lên, giơ tay ra van xin

- Ông già Noel ơi ! Cho cháu quà với ! cháu là học sinh giỏi mà…! Sao cháu không có quà ! - Có đứa van nài - lớp học lao xao, lũ học sinh đứng hết cả dậy. Có đứa đứng cả trên ghế, những cánh tay chìa ra với đôi mắt mở to hồn nhiên đến đáng yêu.

Nhưng ông già Noel dường như không nghe thấy thì phải, ông chào cô giáo và vẫy tay chào cả lớp rồi " Lạnh lùng" lên xe máy rồ ga chạy vụt đi như để chạy trốn " lòng tin hồn nhiên " của lũ trẻ. Lũ trẻ ngoái nhìn theo đầy tiếc nuối…

Cũng may, Ông già Noel này may mắn đến trong giờ học. Lúc sáng một ông già Noel khác già hơn cũng đến tặng quà cho một vài đứa trong lớp của nó, nhưng chẳng may ông đến đúng giờ ra chơi. Sau khi tặng quà xong, lũ trẻ bám quanh vòng trong vòng ngoài: Có đứa vặt râu ông xem có phải là ông già Noel thật hay không, đứa khác nắm quần áo xô đẩy, có đứa lấy kính của ông, đứa khác còn nghịch ngợm đưa tay giật lấy những túi quà trong bao tải của ông…Phải khó khăn và may mắn lắm khi nhờ bác bảo vệ “giải cứu” ông già Noel mới thoát khỏi lũ “ Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” với quần áo xộc xệch, râu tóc phờ phạc…Lũ trẻ cười ngả nghiêng khi nhìn ông lên xe máy : Tạch,…tạch…tạch…chạy mất hút, không dám ngoái đầu nhìn lại - Chợt nhớ chuyện khi sáng, nó cười một mình.

Chưa bao giờ nó vui như thế ! Ngày hôm nay sao ấm áp và an lành, Ông già Noel thật tốt bụng và quan tâm đến nó. Đôi mắt nó trong veo và lung linh một cách đáng yêu. Cô giáo nó hình như cũng rất vui với niềm vui của nó, cô nhìn nó với ánh mắt đầy trìu mến ." Ước gì cô giáo là mẹ nó nhỉ! ” - Nó thầm mong ước.




Tan trường, lũ trẻ như đàn ong vỡ tổ túa ra từ các lớp học với vẻ mặt hân hoan. Mẹ nó vừa đỗ xịch chiếc xe tay ga trước cổng trường, ngạc nhiên nhìn nó ôm hộp quà đỏ trên tay :

- Ai tặng cho con thế hả Thảo ? Mẹ nó hỏi với sự ngạc nhiên.

- Dạ, ông già Noel mẹ ạ ! - Nó khoe với mẹ.

- Ai ngoan mới được tặng quà. Con mở xem ông già Noel tặng con cái gì nào! - Mẹ nó nói.

- Dạ ! Thưa mẹ.- Nó hồi hộp mở hộp quà. Mắt nó sáng lên, khuôn mặt rạng ngời hạnh phúc “ Một con gấu Bông rất đẹp và một cuốn truyện cổ tích Grim ” kèm theo một tấm thiệp chúc mừng Noel với những dòng chữ viết rất quen thuộc như lần sinh nhật trước đây của nó :

“ Merry Christmast Noel 2010: Chúc mừng giáng sinh an lành và ấm áp ! Chúc hai mẹ con Hoàng Thảo sức khỏe và hạnh phúc. Mong Hoàng Thảo luôn chăm ngoan, học giỏi, vâng lời bố mẹ và hiếu thảo với mọi người !

Ký tên : Ông già Noel”


Nhìn con với vẻ mặt hồn nhiên và vô tư chị thấy đau xót và thương con vô cùng. Chị giận mình vô tâm, ích kỷ và nông nỗi nên hoàn cảnh cứ xô đẩy chị trượt dài trên con đường đó. Chị nhẹ nhàng hôn lên trán con.

- Mẹ ! Con thương mẹ nhiều lắm. Hôm nay là ngày Noel kia mà, sao mẹ lại khóc? - Nó hỏi hồn nhiên .

- Con mẹ ngoan lắm ! Mẹ có khóc đâu nào, hạt bụi nào bay vào mắt mẹ đó. Ông già Noel thật tốt bụng phải không con ! - Chị quay đi cố giấu những giọt nước mắt chực trào ra…

Cả cuộc đời này chị sống cũng không thể bù đắp hết tình cảm và sự thiệt thòi tình cảm cho con. Chị muốn bắt đầu lại từ đầu nhưng con đường hoàn lương của chị sao mà khó khăn đến thế. Trước đây, chị không dám từ bỏ vì nghĩ rằng xã hội đã xem những người như chị là một loại người bỏ đi. Sẽ chẳng có người đàn ông nào vị tha, cảm thông để chấp nhận và yêu thương một người như chị. Chị phân vân và do dự…và cũng không đủ can đảm dám từ bỏ công việc đang làm vì không biết đi đâu, làm gì để mưu sinh. Nhưng bây giờ có lẽ suy nghĩ của chị đã khác. Khác rất nhiều sau lần trò chuyện cùng cô giáo. Một sự thay đổi lớn lao sau những giằng xé của nội tâm và thực tế nghiệt ngã của cuộc đời trong những đêm mất ngủ...Chị suy nghĩ rất nhiều và chị đã quyết định phải thay đổi cuộc sống hiện tại, dẫu sẽ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống…

Nhìn những dòng chữ trên tấm thiệp, chị thấy nét chữ rất quen thuộc như đã gặp đâu đó. Hình như người này đã tặng quà trong dịp sinh nhật của con chị thì phải. Còn ai vào đây nữa nhỉ! Chị thì thầm “ Cảm ơn cô giáo vì tất cả ! Cảm ơn cô rất nhiều vì những gì cô đã làm cho cháu ! ”... Dù khó khăn hay nhọc nhằn chị sẽ bắt đầu lại cuộc sống mới của mình, không phải vì chị mà vì chính “ Mặt trời bé con của chị !”…

Quảng Ngãi,25/12/2010

Nguyễn Hữu Quang-PDU

Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2010

Tôi sinh ra ở nông thôn, bố mẹ tôi là nông dân!




Nửa đêm.

Mò vào mạng check mail lần cuối.

Nhận được một bức thư thật dài và cảm động của một học viên.

Trong thư, cậu ta tâm sự: “Em đã từng đứng trên bục giảng, từng nói với học sinh của mình về các kỹ năng sống, trong đó em đã nói với bọn trẻ phải biết tự tin trong cuộc sống, biết sống với chính mình và biết vượt qua mọi hoàn cảnh. Thế nhưng, cũng chính trên cái bục giảng ấy, em đã có sự mặc cảm về xuất thân của mình khi những học trò của mình nói “mấy thằng thợ xây” đang gây ồn ào ở công trình thi công gần trường học. Em đã lặng đi như chết khi chợt nhớ lại cách đây 7 năm mình cũng đã từng là thợ xây, và hiện tại cha mình ở nhà cũng là một thợ xây. Vậy mà các cậu ấm trong lớp mình lại gọi các bác lao động kia là “thằng thợ xây”. Nhờ được tiếp xúc với cô mà em đã dám “ngẩng mặt với đời” vượt qua mặc cảm, sống với ý nghĩa đích thực của cuộc đời…”.



Đọc những dòng tâm sự này làm tôi nhớ lại câu chuyện xảy ra cách đây mấy năm. Để trả nghĩa cho cô giáo chủ nhiệm con trai hồi lớp 3, tôi đã “có nhời” nhờ một đệ tử ruột của mình “đặc cách” cho cháu họ của chồng cô giáo (sau hỏi ra mới biết là họ hàng bắn ca nông đại bác mấy ngày cũng không tới), tốt nghiệp trường SP ngoại ngữ, vào làm việc tại một công ty tài chính của nước ngoài, nơi đệ tử ruột của tôi làm Sếp. Tôi năn nỉ đệ tử: “Này em, gắng làm phúc chút nha. Mẹ con bé này là nông dân (về sau mới biết là “nông dân trồng rau” bên Gia Lâm, hic), bố xuất ngũ làm bảo vệ. Nó là con trưởng và học hành khá khẩm nhất nhà. Mình tạo cơ hội cho nó để sau nó còn làm chỗ dựa và dẫn dắt các em”. Đệ tử của tôi cũng thuộc túyp người nghe đến hai chữ nông dân là thấy mủi lòng, người nhũn như bún, vội lập bập “Vâng, bác nói thế làm sao em từ chối được”. Học ngoại ngữ thì biết quái gì về tài chính mà làm. Tuy nhiên, may mắn cho con bé là đệ tử của tôi đã cử người hướng dẫn nhiệt tình từng ly từng tí và dần dần cô bé đã bắt đầu quen với công việc. Thế nhưng, cái mặc cảm là “con nông dân” đã giết chết con bé. Nó đã choáng váng đến nghẹt thở khi vào làm ở một công ty sang trọng với những nhân viên ăn mặc lịch lãm. Sự thân thiện của Sếp, sự cởi mở và nhiệt tình giúp đỡ của các đồng nghiệp cũng không cứu nổi con bé. Nó đã không tự bước qua được cái ám ảnh tâm lý nặng nề “mình là con nông dân, con của đẳng cấp dưới”. Sau gần hai tháng, khi thời gian học việc đã có kết quả khá khả quan, bỗng nhiên tôi nhận được một email rất dài của cô bé: “Cô ơi, cháu không biết phải nói gì nữa cả. Trên đời này, ngoài bố mẹ cháu ra chưa ai lo và giúp đỡ cho cháu như cô. Nhưng hôm nay cháu phải thành thật xin lỗi cô vì cháu đã quyết định thôi việc ở công ty. Cháu không vượt qua được áp lực tâm lý rất nặng nề mỗi khi bước vào cơ quan. Cháu luôn bị ám ảnh về tầng lớp xuất thân của cháu và cháu thấy mình không thể phù hợp với môi trường làm việc ở đó. Các bạn cháu cũng bảo “con vua thì lại làm vua, con sãi nhà chùa lại quét lá đa” thôị. Và cháu đã quyết định đi sang Đức làm Aupair * rồi cô ạ………………”
Đọc xong bức thư tôi đã rất giận. Sao có cái giống đâu mà ngu đến thế hả giời. Thế mà cũng tốt nghiệp đại học đấy. Đã “gang” miệng ra và đổ cơm vào cho mà còn không tự nhai, tự nuốt được thì có chết cũng là đáng đời thôi. Con nông dân thì làm sao? Con nông dân thì không có quyền hay không thể ngửa mặt lên được với đời à? Mày ngu thế thì chỉ đi làm OSIN cho thiên hạ là đáng rồi con ạ.

Điên ruột.

Hôm sau, ngay lúc vừa bước chân vào giảng đường (với gần 100 sinh viên) tôi hỏi luôn:

- Trong giảng đường này, những em nào là con nông dân?

Lúc đầu lác đác những cánh tay rụt rè giơ lên, sau đó có đến già nửa hội trường.

- Có ai mặc cảm mình là con nông dân?

Những ánh mắt nhìn nhau không mấy tự tin cho lắm.

Nhưng không ai trả lời.

- Làm sao mà phải tự ti vì là con nông dân. Các em thậm chí còn nên hãnh diện với mọi người là bố mẹ mình thuộc thành phần “sạch sẽ” nhất ở trong cái xã hôi này (nào có tham nhũng hay chấm mút được của ai cái gì ngoài món đặc sản “mồ hồi” và “thắt lưng buộc bụng” mà chẳng "sạch sẽ"). Nhưng tất nhiên là chỉ khi bố mẹ các em không dùng thuốc trừ sâu hay hóa chất quá liều thôi đấy nhé – tôi hóm hỉnh “bồi” thêm. Phải hãnh diện là cha mẹ mình nghèo khó, mình không có điều kiện được luyện ở các “lò lớn lò bé” như các bạn khác nhưng mình vẫn ngẩng cao đầu đường hoàng bước chân vào cổng trường đại học chứ.

Mặc cảm vì xuất thân nghèo khó (thường đi liền với hèn) là tâm lý rất phổ biến ở nhiều người, bởi thế việc nói những điều này với bọn trẻ (sinh viên) cũng không phải là thừa.

Đúng thế, dám chắc không phải là thừa.

Bỗng nhớ lại cuộc trò chuyện với hai cô bé sinh viên làm phục vụ tại một quán ăn đêm vỉa hè ở Huế cách đây mấy năm.
Sinh ra và lớn lên ở một vùng núi của Thanh Hóa, hai cô bé vào học ngành văn ĐHSP Huế với giấc mộng trở thành nhà báo. Nhà nghèo, cha mẹ là nông dân, quanh năm làm vẫn không đủ ăn chứ đừng nói đến chuyện nuôi con đi học đại học, nên phải đi làm thêm buổi tối. Xin việc cũng khó nên đành đi bưng bê ở quán ăn đêm với tiền công khá rẻ mạt. Các cô bé kể, đi làm thế này tuy vất vả nhưng bọn cháu không ngại, chỉ sợ nhỡ may bạn bè bắt gặp thì ngượng và tủi thân lắm. Tôi bảo: sao phải ngượng với bạn bè? Mình sống bằng sức lao động của mình, có ăn cắp, ăn trộm hay ăn xin ai đâu mà phải ngượng. Đúng ra các cháu phải hãnh diện và tự hào với bạn bè là mình đã tự nuôi sống được bản thân và công việc học hành của mình chứ. Nghe thấy thế hai cô bé bảo: “Cô ơi, cô là người duy nhất nói với chúng cháu như thế. Mọi người không ai nghĩ như vậy đâu cô ạ. Cảm ơn cô đã động viên và tiếp thêm nghị lực cho bọn cháu”.
Trước khi chào ra về tôi còn dặn dò hai cô bé: “Các cháu cố lên nhé, nhưng gắng đừng để làm thêm ảnh hưởng nhiều đến công việc học hành. Nếu thích thử sức với nghề báo thì khi viết được bài gì hay hay cứ gửi cho cô theo địa chỉ email …. , cô sẽ tìm cách gửi đăng giúp”.

Và tôi mong các sinh viên, học viên của tôi dám ngẩng cao đầu với thiên hạ mà nói rằng:

Tôi sinh ra ở nông thôn, bố mẹ tôi là nông dân….

-----------------

* Aupair: giúp việc



23h55, ngày 30.06.2010


N.Thị Phương Hoa - PGS,TS trường ĐHQG Hà Nội

Thứ Tư, 1 tháng 9, 2010

Kỷ niệm ngọt ngào…!

( Kỷ niệm ngọt ngào…Hay: Tự truyện của thầy Nguyễn Văn Vẽ .)
Cho đến bây giờ trên quảng đường xa xôi vạn dặm vượt thời gian, mỗi năm đến ngày 20/11 lòng tôi không khỏi bồi hồi xúc động khi nhớ lại những " kỷ niệm ngọt ngào" khó quên trong cuộc đời làm giáo viên của mình. Kỷ niệm đó lắng sâu trong ký ức tôi như một bảo tàng của tất cả những gì đáng nâng niu, trân trọng và hồn nhiên như một "xã hội trẻ em" đầy cá tính và vui nhộn. Nó là cái đẹp mỹ học - cái đẹp thuần khiết nhất như khi tôi mở tập đồng thoại Andecxan tâm hồn nông cạn bỗng ngập tràn ánh sáng .…

Ngày đó, tôi còn là một giáo viên dạy học ở một trường tiểu học ở ngoại ô, và những "Mặt trời bé con" của tôi là những chú nhóc, những cô bé tóc còn khét mùi nắng, chân đi đất , áo không đủ mặc nhưng lại hồn nhiên đến dễ thương, vô tư đến đáng yêu và hiếu học. Ngày đâù tiên khi tôi cầm QĐ xuống trường,ông hiệu trưởng trố mắt ngạc nhiên nhìn tôi như trên trời rơi xuống ,tôi dạy môn mỹ thuật ở tiểu học-như người đóng vai phụ,chẳng có HS nào ở lớp bị ở lại lớp hay bị phàn nàn vì môn học tôi cả,ngoài vai phụ còn là diễn viên đóng thế .Này nhé nếu trường có GV nữ nào đau ốm hay nghỉ thai sản (đại khái là có lý do) tôi dạy luôn từ vẽ đến tiếng việt,toán,thủ công...suốt buổi học hôm đó,kể cả những môn học chẳng phải sở trường của tôi,cũng may kiến thức tự nhiên và xã hội không đến nỗi tồi nên tôi đáp ứng được mức "đạt yêu cầu.!" -" Chỉ cần đọc thông ,viết thạo,nhân chia cộng trừ là được thôi mà!"-Tôi tự nhủ

Tôi còn nhớ những ngày dạy đầu tiên, lũ học trò nhìn tôi với cặp mắt hiếu kỳ và lạ lẫm,

- Ê ! Thầy giáo mới chúng mầy ơi! Tiếng học trò lao xao.

- Em chào thầy ạ ! - Một giọng nói trong trẻo, đầy nghịch ngợm cắt ngang một ý tưởng thoáng qua trong đầu .

Tôi ngoảnh lại một mái tóc đuôi gà biến mất sau ô cửa, tôi mỉm cười thấy tự tin và đầy vinh dự. Thế rồi không biết từ lúc nào tôi đã nhập vào thế giới trẻ em đó với tất cả tình yêu thương và niềm đam mê nghề nghiệp.Trong các giờ dạy tôi đóng vai như người quản trò thiết kế các cuộc chơi…Cuộc sống sẽ mất đi hứng thú nếu thiếu những cuộc chơi. Đối với các em vẽ là trò chơi phù hợp với tâm sinh lý, vì các em có thể bi bô ngôn ngữ ấy theo một bản năng tự nhiên nhưng lại là trò chơi khó khăn vì mỗi em phải tự tìm kiếm những hình và màu như những ký hiệu ẩn dụ. Sự nhận biết và cá tính của mỗi em được thể hiện trên mỗi bức tranh. Đôi khi tôi bắt gặp những đôi mắt tròn xoe khi lũ trẻ say mê nhìn ngắm sản phẩm của chúng . Vâng ! Có thể có một câu chuyện cổ tích hay một giấc mơ được chuyển tải vào trong đó.Chẳng bao lâu tôi trở nên thân thiết, học trò gọi tôi bằng cái tên trìu mếm " Thầy vẽ " lâu rồi thành quen mọi người trong trường kể cả giáo viên đồng nghiệp đều gọi tôi là thầy vẽ, nhiều khi tôi cảm tưởng mọi người chẳng biết tên thật của tôi là gì? Có người nhầm lẫn : Nguyễn Văn Vẽ, hay gọi tôi bằng cái tên trìu mếm họa sĩ Nguyễn Văn Vẽ…Và tôi vẫn cam chịu như là sự cam chịu nghề nghiệp.

Thế rồi ngày 20/11 đầu tiên cũng đến, tôi dậy sớm hơn mọi ngày để dọn dẹp lại căn phòng và chờ đợi, một sự chờ đợi đầy hồi hộp và hãnh diện " Ừ ! Tôi cũng sẽ có học trò đến thăm như mọi giáo viên khác, chắc sẽ có nhiều hoa lắm…Và tôi sẽ mang một bó hoa đến tặng bác Thành - là thương binh làm bảo vệ trường - bác chẳng có học sinh nào đến thăm cả…"-Tôi nghĩ thầm và sắp xếp một kế hoạch trong đầu.

Chưa bao giờ tôi thấy thời gian dài như vậy, nhìn đồng hồ tôi bắt đầu lo âu, phía bên kia nhà cô giáo dạy toán trường THPT học sinh đến tấp nập, ồn ào, xô bồ.v.v…Cảm nhận cả nụ cười mãn nguyện của cô giáo tôi thấy thất vọng và hụt hẫng…


- Em chào thầy ạ ! Em chào thầy vẽ ạ ! - Tiếng học sinh xôn xao kéo tôi trở về với thực tại, tôi nhận ra các cậu học trò lớp 4A.

- Các em vào nhà đi !- Tôi vồn vã và tất cả ríu rít như đàn chim, Hùng hai tay lúng túng đặt bó hoa cỏ dại lên bàn.

- Thưa thầy ! Hôm nay ngày nhà giáo Việt Nam… chúng em có mua vài quyển sổ tặng thầy làm kỷ niệm ngày 20/11…Chúc thầy luôn vui, khoẻ…- Bé Lan vụng về diễn đạt và đặt gói tặng phẩm trên bàn.

Tôi cảm ơn các em và mời các em uống nước, trò chuyện, hỏi thăm hoàn cảnh gia đình, động viên các em học tập và giúp đỡ gia đình. Như cảm nhận được sự quan tâm và chia sẻ tất cả trở nên mạnh dạn và cởi mở hơn. Ngồi chơi một lát các em xin phép ra về .

Tiễn các em ra ngõ và quay vào nhà, bất chợt

- Thưa thầy !... Một cậu học trò nhỏ rụt rè.

- Vào đây em, em đi một mình thôi sao ? Tôi ngạc nhiên nhận ra chú nhóc Minh ( Biệt hiệu : Minh lí lắc)

- Thưa thầy ! Em…em…- Minh lí lắc lúng túng giải thích và móc túi quần lấy ra tờ bạc 5.000đ nhàu nát, vuốt cho phẳng và đặt lên bàn…Em có chút ít tình cảm gửi đến thầy nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20/11…

(Tôi nghĩ: À, thì ra cu cậu này ngủ dậy muộn nên không kịp đến để góp tiền mua quà với các bạn đây mà,thảo nào - Trông cậu có vẻ bối rối! và đây là cách xử lý của cậu !!!)

Tôi mỉm cười ngạc nhiên, nhìn Minh một cách nghiêm túc :

- Tình cảm của em là đáng trân trọng, thầy cảm ơn nhưng em không phải làm như vậy, chỉ mong em luôn học giỏi chăm làm, vâng lời bố mẹ đó là món quà quí nhất gửi đến các thầy cô giáo ! Tôi vừa nói vừa nhét tờ 5000đ vào túi quần Minh nhưng vô vọng .

- Các bạn trong lớp đều thế cả, nếu thầy không nhận thì em không về ! Minh quả quyết chỉ gói quà trên bàn .

Tôi cố gắng thuyết phục Minh một lần nữa nhưng vẫn không được.

Có vẻ Minh lí lắc đang hờn dỗi, tôi bối rối nhìn tờ giấy bạc đặt trên bàn " Khó thật, nếu không thuyết phục được thì phải thỏa hiệp thôi "- Tôi nghĩ thầm - Lúc này tôi lại chuẩn bị đến trường để dự buổi toạ đàm ngày nhà giáo Việt Nam 20/11.



…Sau đó tôi chở cậu bé ra quày văn phòng phẩm mua một hộp màu vẽ và trao cho cậu bé hộp màu vẽ như một món quà tôi tặng, không quên dặn dò "Em cố gắng học thật giỏi và vẽ những mơ ước của em thành sự thật để bố mẹ,thầy cô vui nhé "Tôi thấy Minh cười hồn nhiên, đôi mắt long lanh thật đáng yêu.

Đến hôm nay, là giáo viên giảng dạy ở một trường chuyên nghiệp, đối tác của tôi là những chủ thể hoàn toàn khác, có cuộc sống tâm lý, tình cảm phong phú và phức tạp hơn nhiều nhưng những "Chuỗi kỷ niệm ngọt ngào" về một khung trời tuổi thơ luôn là một gia tài quí báu nhất ! Con đường mình đã đi qua là gia tài quí báu nhất của mình, chỉ có nhờ những con đường ấy mới có thể đi tiếp những con đường về sau…

CĐSP Quảng Ngãi: 20/11/2000)
Nguyễn Hữu Quang
(Truyện ngắn được viết dựa trên những kỷ niệm có trong ký ức của thầy giáo NHQ)

Tôi đọc và suy ngẫm, vậy tôi tồn tại !!!





…Thế giới mênh mông, sự vân động của nó cũng mênh mông. Mỗi chúng ta giống như một đơn vị nhỏ nhất của thời gian, là một tíc tắc - tíc tắc…Những ước mơ, nguyện vọng, thành bại, những vui sướng, đau khổ,…Tất cả gói trọn trong cái hữu hạn khoảng khắc : Tích tắc - tíc tắc. Các triết nhân xưa thường ngắm cái sọ người để suy ngẫm: Mưu bá đồ vương rút lại cũng chỉ là một cái sọ vô danh, mỏng mảnh.Tôi không ngắm sọ người mà thường suy tư trước cái đồng hồ báo thức đặt trên bàn . Tích tắc - tíc tắc, hãy nhớ tới cái hữu hạn, cái ngắn ngủi, cái chóng qua của một kiếp người. Hãy mơ mộng trong cái hữu hạn ấy.Với cái vĩnh viễn, cái vô tận, cái trôi đi mãi mãi…thì mình có là cái gì, chẳng là cái gì cả, đừng nghĩ phải là cái gì đó mà khổ nhưng ta vẫn có thể là cái gì đó trong cái khoảng khắc ta đang sống, là một sức đẩy dẫu là yếu ớt vào cái dòng lưu chuyển chung, tôi vẫn nghĩ như thế, tôi vẫn sống như thế và tự xem là đủ. Mấy năm qua, tự xét mình tôi thuộc về sức đẩy, chứ không thuộc về vật cản nhưng cũng chỉ như thế thôi, chẳng là cái gì cả trong cái dòng chảy ồ ạt, vĩnh viễn của lịch sử! Chúng ta chẳng là gì cả danh nhân, danh tướng còn chưa là cái gì (?)…Huống hồ một đơn vị rất vô nghĩa là mình (!)

Tôi vẫn nghĩ như thế, tôi vẫn sống như thế và tự xem là đủ… Tôi không ngắm sọ người mà thường suy tư trước những câu "ranh ngôn" của thế hệ @ rằng " Lương tâm không có răng ! Người xấu tưởng tượng ra lương tâm để hù dọa người tốt … để người tốt luôn cắn rứt lương tâm.Vốn dĩ thế- người tốt vốn cả tin- nên người tốt bị người xấu " ám sát"…" Phải trãi nghiệm thì mới biết và ngẫm nghĩ ... Tôi đọc và suy ngẫm, vậy tôi tồn tại ! Tích tắc - tíc tắc - Một đơn vị rất vô nghĩa trong cái hữu hạn ấy...

Giá trị cuộc sống



Đứa bé trai đến gần một ông già có vẻ ngoài rất thông thái. Ngước nhìn ông, cậu bé nói: "Cháu biết ông là một người rất sáng suốt, uyên thâm Ông có thể cho cháu biết về bí ẩn của cuộc sống?"
Ông già nhìn đứa bé đáp: "Suốt đời mình ông đã suy ngẫm rất nhiều về điều này và có thể nói ngắn gọn chỉ trong bốn từ: - Đầu tiên là suy nghĩ . Hãy nghĩ về những giá trị mà con sống vì chúng. - Thứ hai là tự tin . Hãy tin tưởng bản thân bằng cách dựa vào những giá trị con nghĩ rằng vì chúng mà con sẽ sống. -Thứ ba là ước mơ . Mơ ước những gì có thể thành hiện thực dựa vào sự tự tin và những giá trị mà ta sẽ theo đuổi trong cuộc sống.
Và cuối cùng là dám làm . Hãy dám thực hiện để biến ước mơ thành sự thật bằng chính niềm tin và giá trị của chúng ta". Ông già đó chính là hoạ sĩ Walt Disney - Người bạn của trẻ em của thế giới.
(Hoathuytinh.com)